Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 12 / Bình Giảng Đoạn Thơ Dốc Lên Khúc Khuỷu Dốc Thăm Thẳm…/ Tây Tiến

Bình Giảng Đoạn Thơ Dốc Lên Khúc Khuỷu Dốc Thăm Thẳm…/ Tây Tiến

(Văn mẫu lớp 12) – Em hãy bình giảng đoạn thơ: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm. Heo hút cồn mây súng ngửi trời. Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống. Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.” Trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.(Bài làm của Hoài An)

Đề bài: Bình giảng đoạn thơ: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm. Heo hút cồn mây súng ngửi trời. Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống. Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

BÀI LÀM

    Bài thơ Tây Tiến có thể xem như một hiện tượng “xuất thần” của Quang Dũng trong thơ kháng chiến chống Pháp. Đó là “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện” (Phong Lê) được khí phách của cả một thời đại ùa vào, chắp cánh để cho cái chất bi tráng bay lên như một nét đẹp hiếm có của một thời thơ. Trong đó có nhiều câu thơ được đánh giá là tuyệt bút, tiêu biểu:

“Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Loading...

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

Bài thơ được sáng tác năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh , khi nhà thơ đã rời khỏi đơn vị cũ Tây Tiến , chuyển sang hoạt động tại một đơn vị khác .

    Tây Tiến là một đơn vị bộ đội chống Pháp được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt Lào , tiêu hao sinh lực Pháp tại Thượng Lào và miền Tây Bắc Việt Nam . Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến rất rộng lớn trải dài từ Sơn la , Hòa Bình , miền tây Thanh Hóa đến Sầm Nưa ( Lào) – là những nơi hiểm trở , hoang vu , rừng thiêng nước độc . Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội , có nhiều học sinh , sinh viên , trong đó có Quang Dũng . Họ sống và chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ , thiếu thốn , bệnh sốt rét hoành hành nhưng vẫn lạc quan , anh dũng . Hoạt động được hơn một năm thì đơn vị Tây Tiến trở về Hòa Bình thành lập Trung đoàn 52 .

    Bài thơ ra đời từ nỗi nhớ, kỉ niệm , hồi ức của Quang Dũng về đồng đội và địa bàn chiến đấu cũ . Tác phẩm sau khi ra đời đã được bao thế hệ thanh niên và bạn yêu thơ truyền tay tìm đọc . Đến năm 1986, bài thơ được in trong tập thơ “ Mây đầu ô” ( xuất bản 1986) .

    Ban đầu bài thơ có tên là Nhớ Tây Tiến , sau đó tác giả chuyển lại thành Tây Tiến. Nhan đề Tây Tiến đảm bảo tính hàm súc của thơ , không cần phải trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ mà tình cảm ấy vẫn hiện lên sâu sắc, thấm thía . Nhan đề còn làm nổi rõ hình tượng trung tâm của tác phẩm , đó là hình tượng đoàn quân Tây Tiến . Việc bỏ đi từ “nhớ” đã vĩnh viễn hóa đoàn quân Tây Tiến, khiến cho hình ảnh người lính Tây Tiến trở thành bất tử trong thơ ca kháng chiến Việt Nam .

    Tây Tiến. là bài thơ in đậm phong cách tài hoa, lãng mạn, phóng khoáng của hồn thơ Quang Dũng. Tác phẩm đã bộc lộ nỗi nhớ sâu sắc của nhà thơ với người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng. Đoạn thơ thứ nhất đã tái dựng lại sống động bức tranh thiên nhiên miền Tây với những khung cảnh, những chặng đường hành quân gian khổ, từ đó hình ảnh những chiến sĩ Tây Tiến cũng lần lượt hiên ra

     Đoạn thơ trên nằm ở phần đầu của bài thơ, là một khổ thơ tuyệt bút, đã khắc họa được những nét đặc sắc về thiên nhiên của miền biên giới Việt – Lào.

    Đoạn thơ có bốn câu, nhưng chia thành hai ý lớn: ba câu thơ đầu tiên miêu tả vẻ đẹp hoành tráng, dữ dội của thiên nhiên miền Tây; còn câu thơ cuối cùng lại ngược lại, nói về sự êm đềm, êm ả của phong cảnh nơi đây.

    Ba câu thơ đầu dựng lên trước mắt ta cái độ cao đến rợn người của chiến trường Tây Tiến. Người lính phải hành quân lên cao mãi, hết dốc này đến dốc khác, đã “khúc khuỷu” lại “thăm thẳm”. Nhịp thơ dừng ở vần trắc Dốc lên thăm thẳm / dốc khúc khuỷu tưởng như nghe được nhịp thở nặng nhọc, gấp gáp của người chiến sĩ đang trèo núi để chiếm lĩnh những độ cao thăm thẳm. Ngỡ như các anh đang đi trong mây, đang cưỡi trên mây (“cồn mây”) để lên đến đỉnh trời. Câu thơ: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm” sử dụng nhiều thanh trắc gợi lên hình ảnh quanh co, hiểm trở của thiên nheien. Các từ láy khúc khuỷu, thăm thẳm diễn tả sự gập gềnh và độ cao đáng sợ của dốc núi. Qua đó, hiện lên nỗi vất vả, gian nan của các chiến sĩ trên con đường hành quân.

    Đến câu thơ thứ hai, tác giả đã miêu tả được chiều cao của núi, và thể hiện được độ tinh nghịch của người chiến sĩ. Khi đã chiếm lĩnh được đỉnh cao nhất thì “súng” các anh đã “gửi trời” ! Có một tiếng cười, thú vị mà tinh nghịch của người lính hào hoa Hà Nội khi đã chiếm lĩnh được đỉnh cao nhất. Không phải súng chạm trời mà là súng gửi trời. Khẩu súng được nhân hóa như người (chính là các anh đó thôi!) đã khiến câu thơ trở nên hóm hỉnh, tinh nghịch, mang chất hào hoa của những chàng trai đất kinh thành hoa lệ lên đánh giặc ở miền Tây. Câu trên nặng nhọc, gấp gáp; câu dưới nhẹ nhàng, thơ mộng trong sự tự hào của người chiến thắng. Ta hiểu đây không chỉ là đỉnh cao của thiên nhiên mặt đất mà chính là đỉnh cao trọng sự chiến thắng của tinh thần, nghị lực người chiến sĩ. Câu thơ gợi cho chúng ta nhớ đến ý thơ giàu tính tạo hình “Đầu súng trăng treo” của Chính Hữu

    Câu thơ thứ ba tiếp tục miêu tả độ cao của dốc núi: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Với nhịp cắt ở giữa cho ta hình dung chiều cao hun hút của dốc núi và chiều sâu thăm thẳm của thung lũng. Điệp từ”ngàn thước” được dùng rất tài tình, nhấn mạnh được độ cao và độ sâu đó.

doc len khuc khuy doc tham tham
Bình Giảng Đoạn Thơ Dốc Lên Khúc Khuỷu Dốc Thăm Thẳm…. / Tây Tiến

    Phải nói rằng, qua ba câu thơ đầu, người đọc có thể hình dung được con đường hành quân của các chiến sĩ vô cùng gian nan, nguy hiểm. Vậy nhưng, đoạn thơ không nhằm nhấn mạnh sự khó khăn, vất vả đó. Qua đây, người đọc còn bắt gặp một niềm lạc quan, yêu đời, một tinh thần dí dỏm của các chiến sĩ cách mạng. Họ không hề kêu khó, ngại khổ, ngược lại, trên con đường hành quân đó, các anh vẫn rất hăng hái, quyết tâm. Qua đây, thể hiện được lòng yêu nước, và sự quyết tâm hi sinh vì đất nước cao cả.

    Nếu như ba câu thơ đầu của đoạn được dùng nhiều thanh trắc, đặc biệt ở cuối câu thơ (ngàn thước xuống) tạo nên sự khúc khuỷu, gập ghềnh, cheo leo, vất vả thì câu cuối của đoạn văn này, tác giả lại dùng toàn thanh bằng, hầu hết là thanh không dấu khiến câu thơ êm ả như một sợi khói nhẹ đang bay lên trời:

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

    Sự đối lập của thanh điệu, nhịp điệu câu thơ đem đến sự đối lập của cảnh và tình trong hai câu thơ và đấy chính là nét tài hoa của thi sĩ. Xưa, Tản Đà cũng có câu thơ như vậy:

“Tài cao phận thấp, chí khí uất

Giang hồ mê chơi quên quê hương.”

    Lúc leo lên dốc, núi như dựng đứng trước mặt, nhưng lúc xuống dốc, nhà thơ phóng tầm mắt về phía xa và phát hiện ra một cảnh đẹp: những ngôi nhà hiện ra phía xa mờ trong mưa. Câu thơ toàn thanh bằng như trải ra, chạy dài tít tắp về phía chân trời tưởng tượng. Sau ba câu thơ tả cái vất vả, nguy hiểm, câu thơ thứ tư tạo cảm giác thoải mái, bình yên giữa mênh mông núi rừng hoang vu.

    Quả thật, đoạn thơ vẽ bức tranh núi rừng sống động với hai nét bút chủ đạo: hiểm trở và nên thơ. Với đoạn thơ này, Quang Dũng đã thể hiện được tài năng độc đáo của mình. Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của ông thật đặc sắc: kết hợp nét gân guốc, rắn rỏi với nét mềm mại. Đoạn thơ giàu tính tạo hình, giàu chất tạo nhạc do cách ngắt nhịp và sự đối lập hình ảnh, thanh điệu. Qua đoạn thơ này, người đọc có thể cảm nhận rõ sự độc đáo trong tâm hồn, tính cách của các chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Dù hoàn cảnh có khó khăn, gian khổ đến đâu thì họ vẫn luôn lạc quan, yêu đời và chiến đấu hết mình vì non sông, đất nước.

>> XEM THÊM: Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc

Bình Giảng Đoạn Thơ Dốc Lên Khúc Khuỷu Dốc Thăm Thẳm…/ Tây Tiến
3 (60%) 4 votes
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

phan tich suc song tiem tang cua nhan vat mi

Phân Tích Sức Sống Tiềm Tàng Của Nhân Vật Mị Trong Vợ Chồng A Phủ

(Văn mẫu lớp 12) – Em hãy phân tích sức sống tiềm tàng của nhân …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *