Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 8 / Phân Tích Cái Ngông Của Tản Đà Trong Bài Thơ Muốn Làm Thằng Cuội

Phân Tích Cái Ngông Của Tản Đà Trong Bài Thơ Muốn Làm Thằng Cuội

(Văn mẫu lớp 8) –  Em hãy phân tích cái “ngông” của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng cuội (Bài làm của học sinh)

Đề bài: Phân tích cái ngông của Tản Đà Trong Bài Thơ Muốn Làm Thằng Cuội

cai ngong cua tan da
Phân Tích Cái Ngông Của Tản Đà Trong Bài Thơ Muốn Làm Thằng Cuội

BÀI LÀM

     Tản Đà( 1889- 1939) tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu, quê ở làng Khê Thượng, huyện  Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây. Tản Đà thuộc dòng dõi quý tộc, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sự nghiệp sáng tác của Tản Đà hết sức phong phú và đa dạng. Trong đó, thơ là lĩnh vực quan trọng nhất trong sự nghiệp phong phú ấy của ông. Có thể nói, từ thập niên 1920 cho đến nửa đầu thập niên 1930, văn đàn Việt Nam không có một nhà thơ nào nổi tiếng và được yêu mến như Tản Đà. Tản Đà sáng tác rất nhiều thơ, ở nhiều thể loại cả về nội dung lẫn hình thức. Thơ Tản Đà hay diễn tả cảm giác say sưa, chán ngán đời thực, đắm chìm trong cõi mộng, những mối tình với người tri kỉ xa xôi, song cũng có những bài mang tính ẩn dụ, ngầm phê phán hiện thực.

    Với một tâm hồn mới mẻ, “cái tôi” lãng mạn, bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương, ưu ái trong thơ văn ông đã chinh phục thế hệ độc giả mới đầu thế kỉ XX. Giữa lúc thơ phú nhà nho tàn cuộc, Tản Đà có lối đi riêng, vừa tìm về với ngọn nguồn thơ ca dân gian và dân tộc, vừa có những sáng tạo độc đáo, tài hoa. Thơ văn Tản Đà có thể xem như một gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại.

     Cũng như Xuân Diệu từng nói: “ Tản Đà là thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại. Tản Đà là người thứ nhất đã có can đảm làm thi sĩ, đã làm thi sĩ một cách đường hoàng bạo dạn, dám giữ một bản ngã, dám giữ một cái tôi”. Nói cách khác, thơ Tản Đà biểu hiện rõ cái “ngông”.

      Vậy “ngông” là gì?

      Nói về “ngông”, theo cuốn “Tản Đà thơ và đời” cho rằng: “Ngông trước hết là một tính cách. Biểu hiện của tính cách đó là những hành động khác đời gây nên sự chú ý của số đông, những hành động ngông thường mang tính chất ngang tàng, phóng túng, đùa cợt.Tính cách ngông biểu hiện một mâu thuẫn với số đông bình thường, nó tách ra, nổi lên.Tính cách ngông vừa mang tính bi kịch lại vừa mang tính hài kịch và nó là sự phủ định thực tại, chỉ trích thực tại bằng sự giễu cợt và khinh thường.

     Ngông cũng là một cách sống, cách sống ấy vượt ra ngoài khuôn khổ của xã hội đương thời, trở thành một thách thức với xã hội đó.Cách sống ấy mang tính chất chủ quan và coi thường dư luận xã hội.

     Ngông còn là một hiện tượng tư tưởng: đó là tư tưởng bất mãn, bất đắc chí, bất cần đời, khinh thế ngạo vật.

     Một con người không có bản lĩnh không thể ngông, không có tâm sự không thể ngông, không đối kháng và phủ định thực tại trong những khía cạnh nào đó cũng không thể ngông”.

     Như vậy, ta có thể hiểu “ngông” thể hiện thái độ, phản ứng của người nghệ sĩ tài hoa có cốt cách, tâm hồn khác biệt với người thường, không chấp nhận sự đơn điệu mà luôn phá cách, sống phóng túng, tự do khẳng định cá tính và bản lĩnh của mình.

     “Ngông” trong thơ Tản Đà biểu hiện ở ba mặt. Đó là sự thể hiện mạnh mẽ cái tôi cá nhân của nhà thơ: cái tôi thoát li, cái tôi hưởng lạc, cái tôi đa tình; đó là sự ý thức sâu sắc về công danh, tài năng và giá trị bản thân; cuối cùng cái “ngông” của ông bộc lộ rõ ở cái nhìn về xã hội.

     Vậy cái “ngông” của Tản Đà được thể hiện như thế nào qua bài thơ Muốn làm thằng cuội. Trong bài thơ này, thi nhân thể hiện cái “ngông” bằng ước muốn thoát li thực tại để lên cung trăng được làm bầu bạn với chị Hằng; được hưởng lạc cuộc sống tự do tự tại.

     Tản Đà muốn thoát li thực tại, lên cung trăng làm bầu bạn với chị Hằng, vì thực tại – “đêm thu” theo cách gọi của ông là “buồn lắm”:

“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi! 
      Trần thế em nay chán nửa rồi.” 

     Nói thế cũng đúng thôi, vì thực tại của xã hội thực dân nửa phong Kiến của dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX đầy rối ren, thối nát. Thời đại Tản Đà sinh ra và lớn lên có thể nói là một giai đoạn phức tạp và rối ren nhất của lịch sử xã hội Việt Nam. Thực dân Pháp thi hành những chính sách cai trị tàn bạo, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra đều thất bại, nhân dân lâm vào cảnh loạn lạc. Hơn thế, cũng trong thời gian này, nền văn hóa nước ta có sự giao lưu rộng rãi với nước ngoài, những luồng tư tưởng mới mẻ, những nét văn hóa khác biệt được du nhập vào đất nước mà người ta vẫn gọi là hiện tượng “gió Á mưa Âu”. Sự rối ren được thể hiện ở hầu hết các mặt từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.Đứng trước một thực tại xã hội như thế, Tản Đà không tìm thấy một lối đi nào cho mình.Ông thoát ly thực tại, đi vào trong cõi mộng và trốn tránh cõi trần.Ông loay hoay với những giấc mộng con đến giấc mộng lớn, ông phản kháng lại hiện thực bằng cách dùng văn chương để nói lên cái tôi cá nhân của mình.Ông chối bỏ, quay lưng với hiện thực phũ phàng, đi tìm lí tưởng, ôm ấp lí tưởng ở thế giới thần tiên được xây bằng trí tưởng tượng.   Nỗi buồn đến mức buồn lắm trong cô đơn chỉ còn biết gọi chị Hằng để giãi bày tâm sự. Ba tiếng chị Hằng ơi Rất biểu cảm, ý vị làm cho giọng thơ thiết tha thân mật. Câu thơ đầy ắp tâm sự buồn và chán. Tản Đà đã từng viết: Đời đáng chán hay không đảng chán, nay thì đã chán nửa rồi. Bài thơ in trong tập Khối tình con xuất bản năm 1916, qua đó ta thấy rõ nguyên cớ sâu xa, buồn và chán vì trần thế, vì cuộc đời xấu xa, vì chế độ thực dân nửa phong kiến ngột ngạt, thối nát tù hãm. Vì công danh dở dang: Tài cao, phận thấp, chí khí uất. Buồn vì non nước đang bị ngoại bang thống trị “Lệ ai giàn giụa với giang san”. Đó là nỗi buồn của một thế hệ trong vòng nô lệ lầm than. Là một thi sĩ đa cảm, đa tình, nỗi buồn đã kết thành mối sầu: 

Loading...

“Nửa ngòi bút ngỗng bao sinh lụy 
       Một mối tơ tằm mấy đoạn vương. 
                            (Đề khối tình con thứ nhất) 
       Một chữ xin rất chân thành thiết tha, như nài nỉ: 
       Cung quế đã ai ngồi đó chửa ? 
       Cành đa xin chị nhắc lên chơi”. 

      Hai câu thực đã làm rõ đề bài Muốn làm thằng Cuội ở nơi cung trồng, cung quế. Câu hỏi tu từ gợi nhiều man mác bâng khuâng. Cành đa đã trở thành cái thang bắc lên chín tầng mây cao xanh để chị nhắc lên chơi cung quế. Đó là giấc mộng thoát ly. Mộng vì chán đời, ngán đời. Mộng có tính phủ định. 

“Nghĩ đời lắm lúc không bằng mộng 
       Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời.” 
                                                (Nhớ mộng) 

     Có lên được cung quế mới đỡ tủi, mới thỏa thích, thế mới vui. Có chị Hằng làm bầu bạn. Có gió, có mây cùng chơi với.   Điệp ngữ (có, cùng) và phép đối được vận dụng sáng tạo, có cả tiểu đối và bình đối. Cách ngắt nhịp 2/2/3 tạo nên giọng thơ nhún nhảy lâng lâng. Thấm đẫm vần thơ là chất phong tình lãng mạn, đọc lên nghe rất thú vị: 

“Có bầu/ có bạn, / can chi tủi, 
       Cùng gió! cùng mây, / thế mới vui.”

     Đúng như nhà phê bình văn học Lê Thanh trong cuốn Tản Đà thi sĩ (1939) đã nhận xét: Thơ của ông (Tản Đà) là chất thơ trong như lọc với những cảnh tượng không rõ rệt những hình ảnh mờ mờ, ông vẽ những bức tranh tuyệt bút với những tư tưởng lâng lâng, với những cảm giác mơ mộng, ông làm nên những câu thơ tuyệt mỹ…. 
      Cái ngông, cái phong tình của thi sĩ Tản Đà đã dâng lên đến cực điểm. Đêm rằm tháng Tám, là đêm trăng sáng nhất, là đêm trung thu đẹp nhất. Tản Đà chẳng còn buồn và cô đơn nữa, thi sĩ được cùng chị Hằng tựa nhau trông xuống thế gian cười. Cái cử chỉ tựa nhau và nụ cười ấy cũng là một giấc mộng đẹp. Thoáng một chút mỉa mai (cho trần thế), nhưng đầy thú vị vì được thoát li, được thỏa thích nơi cung quế: Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám Tựa nhau trông xuống thế gian, cười” 
      Cái kết thoát ly một cách nói phong tình, tài hoa. Có đọc bài thơ Hầu trời mới thấy được, cảm được cái hay, cái thú vị của bài Muốn làm thằng Cuội. 

     Nửa đêm, Tản Đà tỉnh dậy đun nước pha trà, rồi ngâm thơ… Trời nghe giọng ngâm bèn sai hai tiên nữ xuống cõi trần rước thi sĩ bay lên. Thi sĩ đọc thơ cho Trời và bảy tiên nghe. Tất cả đều tấm tắc khen:

 “Văn đã giàu thay, lại lắm lối 
        Trời nghe Trời cũng bật buồn cười 
        Chư tiên ao ước tranh nhau dặn: 
        Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”
                                          (Hầu Trời) 

    
     Bất mãn với thực tại, Tản Đà sa vào cuộc sống hưởng lạc, triền miên với những cuộc say và những chuyến đi. Ông cũng không yêu ở thế giới thực mà lại tìm lên trời, bầu bạn với Hằng Nga, tâm sự với Ngưu lang, Chức Nữ. Cần lưu ý rằng, thời đại mà ông sống vẫn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo truyền thống nên cách thể hiện cái tôi của ông thực sự rất ngông cuồng và táo bạo. Ông dám nói những điều người khác không dám nói, dám làm những gì người khác không dám làm. Ông đã phá vỡ sự gò bó của chế độ, đập tan xiềng xích lễ nghi trói buộc con người. Thay vào đó, ông phơi trải tâm hồn mình một cách tự do, khẳng định cá tính của mình theo một cách riêng biệt. Có thể nói, vì chán ghét thực tại, vì không thể thay đổi thực tại nên Tản Đà đã thể hiện cái ngông của mình bằng ngòi bút văn chương sắc sảo.

     Tuy có nói đến buồn, nói đến nỗi sầu nhân thế, có nói đến thoát ly hiện thực, có thấm vị phong tình,… nhưng trên hết người đọc cảm nhận được bài thơ toát lên tinh thần phủ nhận thực tại xã hội thực dân nửa phong kiến xấu xa. Qua đó, nhà thơ thể hiện niềm khao khát được sống trong một xã hội trong sạch, thanh cao. Giá trị đích thực của bài thơ Muốn làm thằng Cuội là ở chỗ ấy…

>> XEM THÊM: Soạn Bài Muốn Làm Thằng Cuội

Phân Tích Cái Ngông Của Tản Đà Trong Bài Thơ Muốn Làm Thằng Cuội
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

tinh thần yêu nước qua 3 văn bản chiếu dời đô hịch tướng sĩ nước đại việt ta

Tinh Thần Yêu Nước Qua 3 Văn Bản Chiếu Dời Đô Hịch Tướng Sĩ Nước Đại Việt Ta | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 8 ) –  Em hãy phân tích tư tưởng yêu nước và …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *