Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 8 / Chứng Minh Thuế Máu Là Một Áng Văn Chính Luận Mẫu Mực Và Độc Đáo

Chứng Minh Thuế Máu Là Một Áng Văn Chính Luận Mẫu Mực Và Độc Đáo

(Văn mẫu lớp 8) – Em hãy chứng minh Thuế máu là một áng văn chính luận mẫu mực và độc đáo.  (Bài làm của học sinh giỏi trường THCS Tân Mai)

Đề bàiChứng Minh Thuế Máu Là Một Áng Văn Chính Luận Mẫu Mực Và Độc Đáo

BÀI LÀM

      Bản án chế độ thực dân Pháp của lãnh tụ cách mạng Nguyễn Ái Quốc được viết bằng tiếng Pháp, xuất bản tại Pa-ri năm 1925 và xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1946. Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục có tựa đề Gửi thanh niên Việt Nam, nội dung tố cáo và kết án tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân Pháp trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… đồng thời phản ánh tình cảnh tủi nhục khốn cùng của người dân nô lệ ở các xứ thuộc địa trên thế giới. Từ đó, bước đầu tác giả vạch ra đường lối đấu tranh cách mạng đúng đắn để các dân tộc tự giải phóng, giành quyền độc lập.

  Chương Thuế máu (Trích từ chương I – Bản án chế độ thực dân Pháp) có sự kết hợp tài tình của nhiều hình thức thể loại: phóng sự, văn chương thẩm mĩ, nhưng trên hết và trước hết, nó là một tác phẩm văn chính luận, mang đây đủ đặc trưng của một tác phẩm văn chính luận. Viết Thuế máu, Nguyễn Ái Quốc muốn vạch trần chân tướng dã man, tàn ác, xảo trá, đê hèn của thực dân Pháp, đồng thời để thức tỉnh nhanh chóng nhân dân các nước thuộc địa cổ vũ họ đứng lên đấu tranh. Nguyễn Ái Quốc đã đứng hẳn về phía nhân dân bị áp bức trên khắp thế giới và bênh vực quyền sống của họ. Người lên án mạnh mẽ các thủ đoạn xấu xa của thực dân Pháp và bè lũ tay sai nhằm xô đẩy hàng chục vạn dân vô tội vào lò lửa chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), biến họ thành vật hi sinh cho những tham vọng ngông cuồng của bọn đế quốc.

  Có thể khẳng định rằng, tác phẩm thuyết phục người đọc một cách mạnh mẽ bởi hệ thống luận điểm đúng đắn độc đáo, những lí lẽ, dân chứng xác đáng và phương pháp lập luận đa dạng. Văn bản Thuế máu có một luận điểm bao trùm qua tên chương và ba luận điểm cụ thể ứng với tên gọi ba phần của nó.

Loading...

  Bài văn gây ấn tượng với người đọc ngay từ tên tiêu đề Thuế máu. Trên thực tế, không có một loại thuế nào có tên như vậy, người ta chỉ thấy thuế muối, thuế gạo, thuế thóc,… Tiêu đề Thuế máu thể hiện như một luận điểm chìm, mang ý nghĩa tiềm ẩn. Tên tiêu đề đã vạch trần được chính sách bóc lột xương máu dã man của thực dân Pháp, tác giả đã để cho hai chữ Thuế máu tự nó nói lên ý nghĩa. Đó là thứ thuế độc ác nhất, man rợ nhất, kì lạ nhất là thứ thuế đánh vào mạng sống, xương máu người dân các nước thuộc địa. Do vậy, bản thân tên gọi của chương văn cũng đã toát lên tinh thần tố cáo, lên án, buộc tội chế độ thực dân Pháp.

     Kết cấu ba phần của chương là sự triển khai luận điểm bao trùm nói trên. Ba luận điểm cụ thể cũng được nêu ra qua tên gọi của ba phần, cũng với tính chất hàm ẩn tương tự. Chiến tranh và người bản xứ: Người dân các nước thuộc địa đã bị xô đẩy vào cuộc chiến tranh như thế nào? Chế độ lính tình nguyện: Phải chăng người dân thuộc địa nguyện đi lính cho Pháp? Kết quả của sự hi sinh: Người dân thuộc địa được gì sau cuộc chiến tranh? Văn bản được xây dựng bằng một hệ thống luận điểm chặt chẽ, thông qua hệ thống luận điểm này người đọc biết được đối tượng, nguyên nhân, diễn biến, kết quả của sự bóc lột về xương máu của thực dân Pháp đối với người dân thuộc địa, hiểu được những thủ đoạn dã man của bọn chúng và thêm cảm thông, thấu hiểu số phận của những người dân phụ thuộc. Ba phần của chương Thuế máu được bố cục theo trình tự thời gian: trước, trong và sau khi xảy ra cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Với cách sắp xếp này, tác giả đã phơi bày toàn diện, triệt để bộ mặt giả nhân giả nghĩa, trơ trẽn, bản chất tàn bạo của chính quyền thực dân xung quanh việc bóc lột bằng “thuế máu”, đồng thời sự thật thảm thương về số phận người dân ở các nước thuộc địa cũng được thể hiện sinh động, cụ thể.

    Bên cạnh cách nêu luận điểm độc đáo, tác giả Thuế máu còn sử dụng kết hợp các phương pháp lập luận nhằm xác lập luận điểm cho từng phần và mối quan hệ giữa các phần. Đây chính là một trong những đặc điểm của phong cách chính luận Nguyễn Ái Quốc. Toàn chương có hai phương pháp lập luận cơ bản. Thứ nhất: lập luận theo quan niệm thời gian: trước chiến tranh – trong chiến tranh – sau chiến tranh. Thứ hai: lập luận theo quan hệ nhân quả (căn cứ vào số phận của người dân phải nộp thuế máu): chiến tranh – bị đi lính – kết quả nhận được.

    Đặc biệt, ở mỗi phần của chương cũng thể hiện sự kết hợp nhiều phương pháp lập luận. Trong chương thứ nhất:  Chiến tranh và người bản xứ, Nguyễn Ái Quốc kết hợp nhuần nhuyễn ba phương pháp lập luận: Lập luận theo quan hệ thời gian: trước chiến tranh – khi chiến tranh bùng nổ; lập luận theo quan hệ liên tưởng so sánh: thái độ của các quan cai trị thực dân đối với “người bản xứ” ở hai thời điểm trước và sau chiến tranh; Lập luận theo quan hệ nhân quả: cái “vinh dự đột ngột” mà thực dân Pháp dành cho người bản xứ và cái giá đắt mà họ phải trả cho cái “vinh dự đột ngột” ấy.

   Sự kết hợp các phương pháp lập luận này có tác dụng làm nổi bật thủ đoạn lừa bịp bỉ ổi của chính quyền thực dân đã bắt đầu biến người dân thuộc địa thành vật hi sinh, đồng thời làm hiện rõ số phận thê thảm của những người vô tội.

   Thuế máu là chương mở đầu của “bản án kết tội” thực dân Pháp. Muốn kết tội đối phương, cần phải có lí lẽ sắc bén, chứng cứ rõ ràng, không thể chối cãi. Cách nêu lí lẽ và dẫn chứng của Nguyễn Ái Quốc là dùng ngay luận điệu và hành động thực tế của kẻ thù mà vạch mặt chỉ tên chúng trước vành móng ngựa, làm cho chúng lộ rõ nguyên hình. Chính vì thế, ta gặp không ít những câu và từ ngữ vốn được thốt ra từ cửa miệng bọn quan lại thực dân được trích lại dưới dạng này hay dạng khác: Những tên da đen bẩn thỉu/ Những tên An- nam-mít bẩn thỉu/ con yêu/ bạn hiền/ chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do/ Vật liệu biết nói/ các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương…/ Các anh đã bảo vệ Tổ quốc, thế là tốt. Bây giờ, chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đư…Nghệ thuật trào phúng của Nguyễn Ái Quốc thật tài tình.

   Để lí lẽ thêm hùng hồn và bằng chứng thêm thuyết phục, tác giả đã sử dụng những cách liên kết thật đa dạng, chặt chẽ, mà phổ biến là dùng các trạng từ tình thái, các cặp quan hệ từ hô ứng theo quan hệ tương phản hoặc tương đồng:

    “Trước năm 1914, họ chỉ những tên da đen bẩn thỉu, những tên “An-nam- mít” bẩn thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta. Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui chơi vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người bạn hiền của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa. Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cái danh hiệu tối cao là “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”. Nhưng họ đã phải trả bằng một cái giá khá đắt cho cái vinh dự đột ngột ấy…

     “Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi, thì những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyền nhà ta bỗng dưng im bặt như có phép lạ, và cả người Nê-gơ-rô lẫn người An-nam-mít mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu”.

     Những cụm từ hô ứng theo thời gian như: “Từ bao đời nay… nay…”, “thoạt tiên… sau đó” hoặc quan hệ trật tự logic: “Thế là… như thế là”, “một mặt… mặt khác…” có vai trò vạch rõ tội ác của bọn thực dân. Còn khi cần bác bỏ luận điệu lừa bịp, xảo trá của kẻ thù, Hồ Chí Minh sử dụng các kiểu câu hỏi phủ định: “Nếu quả thật… tại sao… phải chẳng là…”

   Không chỉ dừng lại ở những đặc sắc trong cách trình bày luận điểm, trong phương pháp lập luận và cách nêu lí lẽ, dẫn chứng. Tác phẩm có sức thuyết phục cao độ và còn do giá trị biểu cảm đặc sắc của nó thông qua hệ thống các hình ảnh sinh động, giàu sức gợi. Đó là những hình ảnh: “cảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi”, “đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thủy quái. “những miền hoang vu thơ mộng vùng Ban-căng… “bờ sông Mác-nơ, hoặc trong bãi lầy miền Săm-pa-nhơ…”,….

chung minh thue mau la mot ang van chinh luan
Chứng Minh Thuế Máu Là Một Áng Văn Chính Luận Mẫu Mực Và Độc Đáo

    Cùng với hệ thống hình ảnh sinh động giàu sức tố cáo (vì mang sức mạnh của sự thật) là ngôn từ mang màu sắc châm biếm và giọng điệu trào phúng, khi giễu cợt mỉa mai, lúc xót xa căm giận, từ đó toát lên lòng căm phẫn bọn thực dân tàn ác, tráo trở, niềm thương cảm cho số phận người dân nô lệ bị lợi dụng và bóc lột “thuế máu”. Đây là kết quả của sự thống nhất giữa lí trí, trí tuệ tỉnh táo và tình cảm nhân đạo cao cả trong tâm hồn Nguyễn Ái Quốc.

    Từ hệ thống hình ảnh và giọng điệu chung của tác phẩm, người đọc nhận ra thái độ yêu ghét rõ ràng của tác giả: căm phẫn chính quyền thực dân tàn ác và xót xa thương cảm cho thân phận người dân nô lệ của các nước thuộc địa bị bóc lột đến cả xương máu, tính mạng.

     Đoạn trích Thuế máu của tác giả Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần được bản chất độc ác, xấu xa và bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chính quyền thực dân Pháp. Qua tác phẩm này, nhà văn lên tiếng tố cáo mạnh mẽ, đồng thời thể hiện niềm thương cảm của mình đối với người dân thuộc địa.

 >> XEM THÊM: Nghệ Thuật Trào Phúng Trong Bài Thuế Máu

 >> XEM THÊM: Soạn Bài Thuế Máu

 >> XEM THÊM: Phân tích đoạn trích Thuế máu

Chứng Minh Thuế Máu Là Một Áng Văn Chính Luận Mẫu Mực Và Độc Đáo
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

Tinh Thần Yêu Nước Qua 3 Văn Bản Chiếu Dời Đô Hịch Tướng Sĩ Nước Đại Việt Ta

(Văn mẫu lớp 8 ) –  Em hãy phân tích tư tưởng yêu nước và …