Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 9 / Phân Tích Đoạn Thơ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích | Truyện Kiều Nguyễn Du

Phân Tích Đoạn Thơ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích | Truyện Kiều Nguyễn Du

(Văn mẫu lớp 9) – Em hãy phân tích đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích(Bài làm của học sinh Thanh Bình)

Đề bàiPhân Tích Đoạn Thơ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích trích Truyện Kiều của Nguyễn Du

BÀI LÀM

     Trong Truyện Kiều, có nhiều đoạn thơ tả rất hay nỗi cô đơn, nhớ nhà của nàng Kiều nhưng không đoạn thơ nào thể hiện được trạng thái bi đát, bế tắc, đơn côi như đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích. Đoạn thơ dài 22 câu là những “Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình” (Tố Hữu). Với đoạn thơ này, bao biến cố khủng khiếp đã diễn ra: tai bay vạ gió, cha và em bị tù tội, gia sản bị bọn sai nha “đầu trâu mặt ngựa” cướp “sạch sành sanh“, phải bán mình chuộc cha, trao duyên cho em, Kiều rơi vào tay Mã Giám Sinh – Tú Bà. Sau khi “thất thân” bởi Mã Giám Sinh, bị mụ Tú Bà làm nhục, Kiều tự vẫn nhưng đã được cứu sống. Tú Bà dỗ dành Kiều:

“Người còn thì của hãy còn,

Tìm nơi xứng đáng là con cái nhà…”

Loading...

     Kiều được Tú Bà đưa ra lầu Ngưng Bích với lời hứa: “con hãy thong dong”, nhưng thật ra là nàng bị giam lỏng. Lầu Ngưng Bích là một điểm dừng chân của Thúy Kiều trên con đường lưu lạc đầy máu và nước mắt, cay đắng và tủi nhục suốt 15 năm liền.

     Đoạn thơ không chỉ biểu lộ tình cảm xót thương của Nguyễn Du đối với kiếp người bạc mệnh là nàng Kiều mà còn thể hiện tài năng độc đáo của nhà thơ. Qua đây, chúng ta thấy một bút pháp nghệ thuật đặc sắc về tự sự, về tả cảnh ngụ tình, về ngôn ngữ độc thoại nội tâm để biểu đạt nỗi lòng mình và tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều.

phan tich doan tho kieu o lau ngung bich
Phân Tích Đoạn Thơ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích | Truyện Kiều Nguyễn Du

     Sáu câu thơ đầu mở ra trước mắt người đọc là thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích:

“Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”
     Mở đầu bài thơ tác giả đã thể hiện một không gian nhỏ bé đang dần khóa đi tuổi xuân của cuộc đời Kiều, trong lầu ngưng bích này, cuộc đời Kiều đang dần bị trôi nổi và hạn chế trong lầu xanh này, bốn vẻ chỉ có tâm trạng ở chung, xa xăm bát ngát nhưng không được ra bên ngoài, suốt ngày chỉ ở trong cảnh cuộc sống bị bó hẹp, với những vẻ non xa của tấm trăng, Kiều không có ai làm bạn, chỉ có mỗi tấm trăng là người bạn tâm tình biết bao cảm xúc. Và chiếc đèn khuya, một cảm xúc đau đớn, trong biết bao nhiêu nỗi cô đơn, bẽ bàng mây sớm đèn khuya, hòa mình trong nửa cảnh, nửa tình, đang dần chia đôi tấm lòng của Kiều. Mùa xuân của tuổi trẻ, của thiên nhiên đang dần bị giam hãm trong những nỗi cô đơn, tội nghiệp của thúy Kiều, bị giam lỏng trong lầu Ngưng Bích, với sự mênh mông của thiên nhiên, tâm hồn của Kiều lại ngày càng trơ trọi, trống vắng, với những bốn bề bát ngát, xa trông chỉ thấy cảnh bát ngát. Bốn chữ “như chia tấm lòng” diễn tả một nỗi niềm, một nỗi lòng tan nát, đau thương. Vì thế, tuy sống giữa một khung cảnh đẹp êm đềm có non xa và trăng gần nhưng nàng Kiều vẫn thấy cô đơn, lẻ bóng, bẽ bàng, bởi lẽ “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Kiều sao không khỏi cô đơn, bẽ bàng trong một cảnh ngộ đầy bi kịch.
     Khi chỉ sống một mình trong lầu Ngưng Bích Kiều đã rất thương nhớ người yêu và nhớ thương cha mẹ. Điều này được thể hiện cụ thể trong tám câu thơ tiếp theo. Với Kim Trọng thì Kiều “tưởng người”. Với cha mẹ thì nàng “xót người”, mỗi đối tượng Kiều đều có một nỗi nhớ riêng. ẫn chờ mong mỗi ngày, Kiều nhớ đến Kim trọng và luôn mong chàng Kim sẽ trở về, nhưng càng mong, chờ Kiều càng đau đớn, xót xa và tủi hổ cho thân phận của mình, nỗi cô đơn vẫn đang bơ vơ bên trời, với tấm lòng chung thủy một lòng vẫn luôn yêu thương đến Kim Trọng. Tình cảm đến Kim Trọng làm Kiều héo mòn, da diết trong khung cảnh rộng mênh mông Kiều vẫn nhớ mong đến chàng Kim, vẫn luôn hướng tới tình yêu của mình. Hàng loạt các câu thơ tiếp theo cũng thể hiện nỗi nhớ thương của Thúy Kiều, không chỉ nhớ đến Kim Trọng, Kiều còn nhớ đến cha mẹ của mình, luôn mong ngóng tin tức về cha mẹ của mình, thấy tủi hận khi cha đã già không có ai chăm sóc, thấy hổ thẹn khi mình chưa báo đáp được công ơn sinh thành mà cha mẹ đã dành cho mình:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trong mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm”

     Hệ thống các động từ “tưởng”, “trông”, “chờ”… liên kết thành một hệ thống đã biểu đạt nội tâm nhân vật trữ tình một cách đặc sắc. Kiều nhớ người yêu khôn nguôi, Kiều xót xa cho mối tình đã nặng lời thề son sắt mà thay đổi.

     Từ chỗ nhớ chàng Kim, Kiều xót cha mẹ mình. Các từ ngữ chỉ thời gian như: “hôm mai”, “cách mấy nắng mưa”, và các thi liệu, điển cố văn học Trung Hoa: “sân Lai”, “gốc tử” và thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh” , cùng với hình ảnh mẹ già “tựa cửa hôm mai” đợi chờ, ngóng trông, đứa con lưu lạc quê người đã cực tả nỗi nhớ thương cha mẹ, nỗi đau buồn của đứa con gái đầu lòng vì hoàn cảnh mà không được chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ, khi song thân đã già yếu, khi “gốc tử đã vừa người ôm“.

     Nguyễn Du đã sử dụng ngôn ngữ độc thoại kết hợp hài hòa giữa phong cách cổ điển và phong cách dân tộc, tạo nên những vần thơ biểu cảm thể hiện một tâm trạng bi kịch, một cảnh ngộ đầy bi kịch của Thúy Kiều.

     Tám câu cuối đoạn, điệp ngữ “buồn trông” xuất hiện bốn lần, đứng ở vị trí đầu câu sáu của mỗi cặp câu lục bát. Buồn trông là buồn mà nhìn ra xa, nhưng cũng là buồn mà trông ngóng một cái gì đó mơ hồ sẽ đến làm đổi thay tình trạng hiện tại. Buồn trông là càng buồn thì càng trông, càng trông lại càng buồn. Đây là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Cứ mỗi cặp câu lục bát là một nét tâm trạng “buồn trông” của nhân vật:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”.

     Trong tâm trạng buồn hướng tầm mắt về nơi cửa bể là không gian rộng lớn chỉ có trời với biển. Không gian ấy lại đặt vào thời điểm chiều hôm gợi lên trong lòng nàng nỗi nhớ quê hương nhớ về người thân yêu. Trên mặt biển rộng lớn nàng còn nhìn thấy con thuyền và cánh buồm thấp thoáng ở phía xa. Câu hỏi tu từ “thuyền ai” như rơi vào khoảng không trống vắng không lời đáp lại bởi con thuyền kia cứ đi xa nàng khuất hẳn về phía chân trời xa. Nhìn con thuyền nàng liên tưởng đến thân phận mình lênh đênh trôi dạt trên đất khách quê người. Nghĩ đến mà lòng nàng lại thấy đau đớn.

     Đôi mắt của nàng lại hướng tới cảnh ngọn nước mới xa:

“Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu.”

     Trước mắt nàng dòng nước chảy vừa mạnh vừa siết cuốn theo những cánh hoa nhỏ bé mỏng manh lúc nổi lúc chìm. Câu hỏi tu từ “hoa trôi man mác biết là về đâu” nàng hỏi hoa kia hay hỏi chính lòng mình. Nhìn cánh hoa mà nàng nghĩ đến số phận mình cũng bị dòng đời xô đẩy không biết đâu là bến bờ. Nghĩ đến mà lòng nàng lại thấy xót xa.
     Thay hình ảnh ngọn nước mới sa là hình ảnh nội cỏ:

“Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

     Cảnh nội cỏ rầu rầu. Từ láy “rầu rầu” gợi về sắc cỏ héo úa, rầu rĩ như bị bàn chân ai dẫm đạp. Nhìn nội cỏ ấy mà Kiều lại liên tưởng đến thân phận mình bị người đời trà đạp rồi cũng héo úa như nội cỏ mà thôi. Nghĩ đến điều đó thôi mà lòng nàng cảm thấy đau đớn. Trong tâm trạng ấy mà nàng lại nhìn thấy một màu xanh trải dài từ mặt đất tới chân trời. Từ láy xanh xanh” gợi một màu xanh đơn điệu và tẻ nhạt khiến cho lòng nàng đã buồn lại càng buồn thêm. Cảnh cuối cùng xuất hiện trước mắt nàng Kiều vẫn là không gian nơi của bể mênh mông rộng lớn. Ở đó có gió cuốn mặt duềnh tạo nên những con sóng lớn xô đập vào bờ đã phát ra những âm thanh ầm ầm. Từ láy “ầm ầm” gợi tả âm thanh nghe thật dữ dội. Sóng biển kia không chỉ ca đập ầm ầm mà còn là tiếng kêu như gào thét nghe thật ghê rợn. Cách biểu đạt của nghệ thuật ẩn dụ “sóng kêu” sóng biển kia hay sóng gió cuộc đời những tai ương tai họa đang đùa rỡn nhấm chìm cuộc đời con người lúc nào không hay. Nghĩ đến điều đó mà lòng nàng cảm thấy lo sợ hão hùng.

      Nỗi buồn của Kiều được đẩy tới một mức cao hơn. Quang cảnh đang im lặng, bỗng dậy sóng:

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

     Âm thanh của tiếng sóng “ầm ầm” trong cảnh “gió cuốn mặt duềnh” như chính là những bão tố phong ba đang chờ Kiều ở phía trước. Nàng lo lắng không biết khi nào tai họa sẽ ập đến như tiếng sóng dồn dập ngoài xa. Tiếng sóng ầm ì như chính tiếng của tai họa sắp ập tới, những cạm bẫy của cuộc đời ập đến “kêu quanh ghế ngồi” khiến cho nàng Kiều sợ hãi.

phan tich doan tho kieu o lau ngung bich
Phân Tích Đoạn Thơ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích | Truyện Kiều Nguyễn Du

     Điệp ngữ “buồn trông” đặt ở bốn đầu câu lục bát trong đoạn thơ như tiếng thở dài cùng với nhịp thơ chầm chậm và những thanh bằng đã nhấn mạnh nỗi buồn cứ càng lúc càng dâng lên mãi trong lòng Kiều cùng hòa với cảnh vật càng lúc càng mênh mang, vắng vẻ hơn. Những từ láy “xa xa”, “thấp thoáng”, “man mác”, “rầu rầu”, “xanh xanh”, “ầm ầm” như những con sóng dằn vặt, buồn tủi dâng tràn trong lòng Kiều.

     Đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất trong Truyện Kiều cũng như văn học trung đại Việt Nam. Đoạn thơ giúp ta hiểu thêm về Kiều, môt người tình chung thủy, một đứa con hiếu thảo và lòng một con người giàu lòng vị tha, khiến ta căm hận xã hội phong kiến bất công tàn bạo đưa đẩy con người tài hoa vào kiếp lầu xanh tủi hổ.

     Kiều ở lầu Ngưng Bích là một đoạn thơ miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật kết hợp bút pháp tả cảnh ngụ tình điêu luyện đã làm nổi bật cảnh ngộ của Kiều và chứng tỏ được tài năng và trái tim biết sẻ chia, biết yêu thương của Nguyễn Du đối dành cho nhân vật và cho cuộc đời. Chính hồn thơ ấy, trái tim ấy đã đi vào tâm tưởng bao thế hệ, đưa chúng ta đến bao cảm xúc khác nhau, khiến ta chẳng thể nao quên như nghĩa tình đậm đà của nhà thơ Tố Hữu đối với đại thi hào này:

“Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân,

Bâng khuâng nhớ cụ thương thân nàng Kiều.”

>> XEM THÊM: Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

>> XEM THÊM: Cảm Nhận Về Bức Tranh Mùa Xuân Trong Cảnh Ngày Xuân

>> XEM THÊM: Soạn Bài Chị Em Thúy Kiều

Phân Tích Đoạn Thơ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích | Truyện Kiều Nguyễn Du
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

phan tich hoi thu 14 hoang le nhat thong chi

Phân Tích Hồi Thứ 14 Hoàng Lê Nhất Thống Chí | Ngô Gia Văn Phái

(Văn mẫu lớp 9) – Em hãy phân tích văn bản Đánh Ngọc Hồi, quân …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *