Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Và Cả Bài Đây Thôn Vĩ Dạ

Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Và Cả Bài Đây Thôn Vĩ Dạ

Em hãy Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Và Cả Bài Đây Thôn Vĩ Dạ (Bài làm của học sinh Phan Minh Anh)
Đề bài: Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Và Cả Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử

Bài Làm

Mỗi khi nhắc đến Thơ mới – một trong những thời đại thi ca rực rỡ bậc nhất của văn học Việt Nam, cái tên Hàn Mặc Tử, bao giờ cũng hiện ra trong tâm trí của độc giả, đặc biệt là những người yêu thơ ca bởi lẽ ông đã trở thành tượng đài lớn. Chế Lan Viên từng nhận định “Mai sau, những cái tầm thường, mực thước sẽ biến đi và còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử”. Và một trong những gì còn lại, đáng phải kể đến đó chính là bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của ông.

     Đây thôn vĩ dạ”, bài thơ nhắc tới miền quê xứ Huế thơ mộng, với vẻ đẹp vừa giản dị vừa yêu kiều như chính người con gái mà tác giả đang thầm thương trộm nhớ. Không những thế, bài thơ còn nói lên niềm khát khao, tình yêu quê và sự gắn bó thiết tha của thi sĩ:
Mở đầu bài thơ là một lời trách móc nhẹ nhàng của nhân vật trữ tình:
                                       “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”
     Không giống với các bài thơ khác,mở đầu bài thơ đây thôn Vĩ Dạ lại không phải là một câu miêu tả hay câu cảm thán, mà là câu hỏi tu từ. Lời thơ vừa là lời mời gọi và cũng là lời trách móc, hờn dỗi ngọt ngào của người con gái. Chỉ một câu hỏi thôi nhưng chan chứa biết bao yêu thương, ngóng đợi. Câu hỏi vốn đưa ra không phải để trả lời, mà gợi ra cảm giác bâng khuâng, khó tả. Hơn nữa, câu thơ còn như là một lời giới thiệu mà cũng là sự tiếc nuối của chính nhà thơ lâu không về thăm thôn Vĩ. Đó cũng chính là lời tự vẫn, tự trách móc mình.

     Thôn Vĩ hiện lên sau lời trách móc, dỗi hờn là một khung cảnh nên thơ, đẹp đẽ:
                                   Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
                                   Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
                                    Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Loading...
Phan Tich Kho Tho Dau Bai Day Thon Vi Da
Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử

     Ba câu thơ đặc tả khung cảnh thôn Vĩ với những hình ảnh đặc sắc: nắng mới, vườn xanh, lá trúc. Nhà thơ như đang đứng ở mảnh đất nơi đây, trực tiếp quan sát và miêu tả. Hình ảnh nắng mới lên – không phải là cái nắng gắt của trưa hè, mà nắng của bình minh buổi sáng, êm dịu, tinh khiết. Nắng lấp lánh sau hàng cau, hàng cau như đang vươn lên đón ánh nắng, thật lung linh, huyền ảo. Nắng mới cũng còn có ý nghĩa là nắng của mùa xuân, mở đầu cho một năm mới nên bao giờ nó cũng bừng lên rực rỡ nồng nàn. Đó là những tia nắng đầu tiên rọi xuống làng quê mà trước nó chiếu vào những vườn cau làm cho những hạt sương đêm đọng lại sáng lên, lấp lánh như những viên ngọc được dính vào chiếc choàng nhung xanh mịn: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”.
     Qua cái nắng mới ấy, mảnh vườn thôn quê trở nên lung linh, huyền ảo bởi một màu xanh mướt mắt. Bằng biện pháp tu từ so sánh “xanh như ngọc” Hàn Mặc tử như đưa người đọc đắm chìm vào một không gian xanh non mướt mắt. Khung cảnh thôn quê thật yên bình, êm ả, nó khác với sự xô bồ, nhộn nhịp nơi phố xá. Trước vẻ đẹp của vườn quê ấy, Hàn Mặc Tử không khỏi xúc động, bồi hồi khi phải thốt lên “mướt quá”. Thi sĩ như đang trầm trồ, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thanh khiết, tinh khôi ấy của khu vườn. Đến câu thơ này, ta bắt gặp cái nhìn của thi nhân đã hạ xuống thấp hơn và bao quát ở chiều rộng. Một khoảng xanh của vườn tược hiện ra, nhắm mắt lại ta cũng hình dung ra ngay cái màu xanh mượt mà, mỡ màng của vườn cây. Ta không chỉ cảm nhận ở đó màu xanh của vẻ đẹp mà nó còn tràn trề sức sống mơn mởn. Những tán lá cành cây được sương đêm gột rửa trở thành cành lá ngọc. Không phải xanh mượt, cũng không phải xanh mỡ màng mà chỉ có xanh như ngọc mới diễn tả được vẻ đẹp ngồn ngộn, sự sống của vườn tược. Một màu xanh cao quí, lấp lánh, trong trẻo làm cho vườn cây càng sáng bóng lên. Nếu như không có một tình yêu nồng nàn đối với thôn Vĩ, đối với Xứ Huế thì có lẽ Hàn Mặc Tử không thể có được những vần thơ hay, đặc sắc đến như vậy.
     Câu thơ cuối cùng của khổ 1, con người nơi thôn Vĩ hiện lên, thấp thoáng, thật đặc biệt:
                                           “Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

     Phải nói rằng, Hàn Mặc Tử là nhà thơ có tâm hồn tinh tế, trí tưởng tượng phong phú. Trong vườn thôn Vĩ Dạ kia, nhành lá trúc và khuôn mặt chữ điền sao lại có mối liên quan bất ngờ mà đẹp thế: những chiếc lá trúc thanh mảnh, thon thả che ngang gương mặt chữ điền. Mặt chữ điền – khuôn mặt ấy càng hiện ra thấp thoáng sau lá trúc mơ màng, hư hư thực thực. Phải chăng, đấy là hình ảnh của cô thôn nữ, người con gái mà ông đang thầm thương, trộm nhớ và đang mong ngóng có dịp trở về thôn Vĩ để một lần được gặp lại người con gái có khuôn mặt chữ điền đầy phúc hậu, dịu dàng kia?
     Chỉ bốn câu thơ thôi, nhưng mở ra một bức tranh thiên nhiên tuyệt sắc. Nếu một lần được đến xứ Huế, bạn hãy ghé thăm thôn Vĩ, để thêm yêu về nơi này.

Nếu khổ 1 nghiêng về tả cảnh thực với cảm xúc náo nức thì sang khổ 2 dường như nghiêng về cảnh ảo với nhiều chi tiết. Cảnh là cả một không gian mênh mông có đủ gió, mây, sông nước, trăng, hoa song không gợi vui, cảnh là cả một thế giới chia lìa li tán:

“Gió theo lối gió, mây đường mây  

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó  

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Không gian như mở rộng ngoài khung cảnh của thôn Vĩ: đó là cảnh trời mây sông nước xứ Huế. Thời gian là buổi ban mai của Vĩ Dạ đã chuyển vào ngày – rồi sang đêm tối.

Ở hai câu đầu, cách ngắt nhịp 4/3 với 2 vế tiểu đối gợi tả không gian gió mây chia lìa đôi ngả. Theo lẽ thường hai cái phải đi đôi với nhau: gió thổi mây bay nhưng ở đây lại chia đôi đường phải chăng dự cảm chia lìa làm chia xa cả những thứ vốn không thể chia tách? Chúng ta nhận thấy, câu thơ “Gió theo lối giú mây đường mây” – tự ngắt làm đôi, ngăn cách bởi một dấu phẩy không đơn giản là tả sự chia cắt đôi ngả của gió, mây mà còn gợi lên sự chia li đôi ngả của tình đời tình người. Hơn nữa, cách diễn đạt lặp cấu trúc ở 2 vế câu tạo ra một không gian đóng kín, nó càng rạch vào nỗi đau thân phận của nhà thơ. Bao bọc nhà thơ là một mặc cảm chia lìa, là cả một thế giới đau thương.

Đến câu thơ thứ hai, nhà thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hoá. Ở đây, con sông biến thành một sinh thể có tâm trạng để giãi bày tâm tư của chính mình. Phải chăng, dòng sông lững lờ chính là dòng đời cay đắng khiến thi sĩ miên man trong nỗi niềm xa xăm; lay  trong hoàn cảnh này lại gợi sự hiu hắt, thưa vắng; nhịp điệu câu thơ chậm rãi  gợi nhịp điệu quen thuộc của Huế từ ngàn đời.

Qua hai câu thơ đầu, hiện lên một bức tranh thiên nhiên ảm đạm, nhuốm màu chia lìa, sự sống mệt mỏi, yếu ớt. Tất cả cảnh vật đều ở một trạng thái ngưng đọng, hờ hững với con người. Cái lay động tinh tường của hoa bắp cũng không đủ làm xao xuyến lòng người. Và cái cảm giác li tán chia lìa của cảnh đã gợi tả tâm trạng khát khao về thôn Vĩ, về với cuộc sống trần thế với một tình yêu tuyệt vọng, đầy mặc cảm. Cảnh buồn ấy có lẽ sinh ra từ hố sâu ngăn cách giữa mình với cuộc đời, giữa nhà thơ với người thôn Vĩ, với một vẻ đẹp e lệ mựot mà của “vườn ai” mà không thể chiếm lĩnh. Ta hiểu vì sao sau hình ảnh nắng mới vụt tắt sau niềm thôi thúc về thôn Vĩ là cả thế giới đau thương chia lìa hiện ra.

Đến hai câu thơ sau, nhà thơ miêu tả cảnh thiên nhiên sông nước xứ Huế về đêm ngập tràn ánh trăng “ sông trăng”.  Dòng sông như được dát bạc, ánh lên, lộng lẫy.

Có thể khẳng định, đây là hai câu thơ tuyệt bút của Hàn Mặc Tử. Nếu thuyền ai gợi lên bao ngỡ ngàng, bâng khuâng, vừa quen vừa lạ thì hình tượng sông trăng lại như một nét  vẽ thơ mộng, chất chứa cái linh hồn của cảnh sắc thiên nhiên xứ sở. Sự kết hợp giữa thuyền ai sông trăng đã tạo nên một hình tượng đẹp, thi vị, gợi vẻ lãng mạn đặc trưng của Huế.

Trong ca dao và thơ văn xưa nay: thuyền, bến, trăng  thường là những ẩn dụ nghệ thuật. Thuyền, bến, trăng là những biểu tượng về người con trai, con gái và hạnh phúc lứa đôi:

“Thuyền ơi có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

Ở trong câu thơ của Hàn Mặc Tử, thuyền chở trăng là thuyền chở tình yêu. Bến là bến bờ hạnh phúc. Liệu con thuyền tình yêu có vượt được thời gian, có kịp để cập được bến  bờ hạnh phúc nữa hay không? Câu hỏi tu từ chất chứa bao niềm khắc khoải, sự chờ đợi mỏi mòn tình yêu, hạnh phúc của thi nhân. Ẩn trong đó có lẽ còn có cả sự hồ nghi, thất vọng:

“Đừng làm thuyền trên sông;

Thuyền chở người li biệt;

Đừng làm trăng trên sông.

Trăng chiếu người biệt li”

Như vậy, chúng ta có thể thấy, khổ thơ thứ hai là cảnh xứ Huế, nhưng qua cảnh đó nhà thơ dự cảm về hạnh phúc chia xa.

Nếu như khổ hai hoàn toàn là cảnh, là thiên nhiên, thì đến khổ ba, thiên nhiên nhường chỗ cho sự hiện diện của con người:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra         

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh         

Ai biết tình ai có đậm đà ?”    

Hình ảnh “khách đường xa” xuất hiện dường như không liên quan gì đến nhân vật  “anh” ở đầu, hay “ai” đó trong đêm trăng, gợi liên tưởng tới một khách má hồng, một bóng giai nhân, thoáng gặp mà nhớ mãi. Chữ “khách” vang lên hai lần trong câu thơ tạo nên âm thanh khô lạnh, chói gắt, xa vắng. Ánh nắng đã xa xôi, ánh trăng đã vụt tắt, người trong mộng hiện lên xa xôi như một ảo ảnh. Hình ảnh “khách đường xa” hiện lên trong tâm trạng khát khao tình người của thi sĩ, hiển hiện thành lời gọi khẩn thiết, đau đáu.

Và, đặc biệt hơn, bóng giai nhân được gợi tả trong mộng tác giả, trong niềm khát khao tình người là một ảo ảnh trắng lạnh, không rõ ràng, cứ nhạt nhoà, xa dần: “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Đó là một màu áo đầy ám ảnh, choán hết tâm tưởng nhà thơ. Câu thơ thứ hai chứa đựng cảm giác hồi hộp, đam mê, đầy ngưỡng vọng (áo em trắng quá) song có cả nỗi niềm hụt hẫng xót xa “nhìn không ra”. Vẻ đẹp của thiên thần áo trắng cứ dần vuột khỏi tầm tay thi sĩ, xa xôi dần, nhạt nhoà dần. Bóng giai nhân cứ nhạt nhoà, “nhìn không ra” có lẽ là vì sương khói mờ nhân ảnh, vì xứ Huế bảng lảng sương khói, mơ màng làm mờ ảo bóng giai nhân.

Câu thơ kết thúc với hình thức nghi vấn, đại từ : “ai” không xác định xuất hiện trong câu thơ để lại như một lời để ngỏ, một dư vị xót xa mênh mông. Tiếng nói nội tâm của  cá nhân nhà thơ đã trở thành một câu hỏi ngàn đời, dành cho tất cả những ai đang khao khát yêu thương, khát khao đồng cảm như thi sĩ: “ai biết tình ai có đậm đà?”.

Mối tình mới nhen trong lòng tác giả thì đậm đà lắm nhưng ai biết được từ phía người đẹp kia tình cảm của họ có tha thiết hay không? Ý thơ vì thế mà gợi mở, chơi vơi, thật khó cắt nghĩa.

Toàn bộ bài thơ là sự biến đổi về cảnh và tình. Nếu ở khổ một ta bắt gặp một khung cảnh tươi sáng tràn trề nhựa sống thì đến khổ hai lại là một khung cảnh ảm đạm, uể oải ngưng đọng và đến khổ ba lại mở ra trước mắt ta một bức tranh mờ nhoè hư ảo. Vì vậy mà tâm trạng của nhà thơ cũng biến đổi theo từ niềm hi vọng rồi đến tâm trạng dự cảm chia lìa, hoài nghi và cuối cựng là sự tuyệt vọng. Đại từ phiếm chỉ ai mang nghĩa mơ hồ, lặp lại nhiều trong các khổ thơ: vườn ai, thuyền ai, tình ai. Sự lặp lại của các câu hỏi tu từ trong các khổ: Sao anh không về…?; Có chở trăng về kịp…?;ai biết tình ai…? thể hiện sự khắc khoải, khát khao tình yêu, hạnh phúc của chủ thể trữ tình. Và cũng vì vậy mà tạo ra một vòng tròn khép kín cho bài thơ.

Đây thôn vĩ dạ đã thể hiện một cách thành công tình cảm yêu mến đối với cảnh sắc thiên nhiên, con người xứ Huế và nỗi buồn sâu kín vì dự cảm tình yêu, hạnh phúc chia xa của Hàn Mặc Tử. Bài thơ là lời tâm sự thầm kín của thi nhân. Qua đây, hơn bao giờ hết, chúng ta thầm yêu mến và cảm phục nghị lực sống phi thường và tâm hồn cao đẹp của người thi sĩ Hàn Mặc Tử.

Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Và Cả Bài Đây Thôn Vĩ Dạ
4 (80%) 6 votes
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

Phan Tich Tam Trang Nhan Vat Trong Hanh Phuc Cua Mot Tang Gia

Phân Tích Tâm Trạng Nhân Vật Trong Hạnh Phúc Của Một Tang Gia

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy phân tích tâm trạng nhân vật trong “Hạnh phúc …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *