Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 10 / Phân tích quan niệm về quốc gia dân tộc của Nguyễn Trãi

Phân tích quan niệm về quốc gia dân tộc của Nguyễn Trãi

(Văn mẫu lớp 10) –  Phân tích quan niệm về quốc gia, dân tộc của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo (Bài làm của học sinh giỏi trường Trưng Vương – Hà Nội)

Đề bài: Phân tích quan niệm về quốc gia dân tộc của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo 

BÀI LÀM

    Thế giới đã biết đến các nhà lãnh đạo quân sự tài ba của Việt Nam. Một số trong họ đã được ghi vào bộ sử biên niên các nhà quân sự nổi tiếng thế giới như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ, Võ NguyênGiáp… Không chỉ đánh giặc giỏi mà người Việt Nam còn đóng góp cho nhân loại nhiều nhà tư tưởng, nhiều nhà văn hoá lớn tầm cỡ thế giới. Và không phải ngẫu nhiên mà UNESCO, khi liệt kê các nhà văn hoá lớn của thế giới, đã phải dành chỗ để ghi tên tuổi các nhà tư tưởng lớn của Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh,… Tư tưởng của Nguyễn Trãi là một trong những đóng góp lớn cho di sản vĩ đại đó, đáng để cho chúng ta khai thác, nghiên cứu.

phan tich quan niem ve quoc gia dan toc cua nguyen trai
Phân tích quan niệm về quốc gia dân tộc của Nguyễn Trãi

    Trong tập kỷ yếu “Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi“, nhiều tác giả đã chỉ ra rằng Nguyễn Trãi là nhà quân sự, chính trị, ngoại giao… nhà văn hoá lớn. Cống hiến của Nguyễn Trãi đã được một số tác giả nói tới. Chẳng hạn, theo Giáo sư Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Trãi “đã đề cập tới các yếu tố hình thành dân tộc mà khoa học chính trị của thế kỷ XX này ít nhiều phải nhắc tới“. Theo Giáo sư Trần Văn Giàu, “Dân tộc ta có gần 5 thế kỷ độc lập lâu dài từ thời Ngô Quyền năm 938 đến đầu thế kỷ XIV. Chính là 5 thế kỷ này, dân tộc Việt Nam (theo ý nghĩa khoa học tiến bộ nhất của khái niệm dân tộc) được hình thành chỉ còn đợi điều kiện để hoàn chỉnh. Đó là sự tham gia tích cực, bền bỉ của quảng đại nhân dân vào việc cứu nước và đựng nước. Điều kiện đó đã xuất hiện với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Lãnh thổ chung, văn hoá chung, tập quán, nhất là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, đủ làm ra thứ keo sơn kết thành một dân tộc , một quốc gia dân tộc bền vững ngay trong thời Trung đại phong kiến mà không phải chờ đến chủ nghĩa tư bản phát triển tạo thành một thị trường chung. Có đủ điều kiện cho sự hình thành dân tộc song ý thức một cách rõ rệt nhất, đầy đủ nhất về sự hình thành đó là cống hiến tinh thần của Nguyễn Trãi, người có trình độ văn hoá cao, có kiến thức quốc học lớn….”

    Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, trước Nguyễn Trãi đã có nhiều nhà tư tưởng tìm cách đưa ra định nghĩa về dân tộc, các quan niệm đó có những giá trị nhất định. Mầm mống của nó phải chăng đã có từ thời Lý Bí. Dân tộc lúc đó thường được gọi là thành hay bang, quốc hay nước. Sau khi quét sạch quân xâm lược ở thế kỷ VI, Lý Bí đã vứt bỏ luôn tên gọi mà Trung Quốc đã áp đặt cho nước ta như Giao Chỉ, Giao Châu, An Nam đô hộ phủ… và đặt tên nước là Vạn Xuân (sau này nhà Đinh gọi là Đại Cồ Việt, nhà Lý gọi là Đại Việt) để chứng tỏ sự cùng tồn tại ngang hàng với các nước lớn ở Trung Hoa. Cùng với việc đổi tên nước là việc đổi tên hiệu người đứng đầu từ Vương sang Đế: từ Trưng Vương, Triệu Việt Vương sang Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế, Đinh Tiên Hoàng Đế. Điều đó thể hiện tinh thần độc lập tự chủ của người Việt. Sau này, Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn đã thể hiện rõ Việt Nam là một quốc gia dân tộc độc lập về chính thể, có quốc hiệu, niên hiệu, đế hiệu và kinh đô riêng. Thời Bắc thuộc, để chống lại sự thống trị trong bộ tộc Việt lúc đó đã có nhiều điểm chung về nguồn gốc tộc người, về kinh tế, tiếng nói, phong tục, tập quán… nhưng họ không thể biết hết các điều đó vì trình độ kiến thức hạn chế. Dân tộc là một phạm trù lịch sử, gắn liền với một giai cấp nhất định trong lịch sử. Ở Việt Nam, trước và sau khi giành được độc lập, phạm trù dân tộc nằm trong hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến. Cùng với thời gian, khái niệm dân tộc được mở rộng cả về bề rộng lẫn bề sâu, cả về không gian và thời gian, cả về đất đai và văn hoá cho phù hợp với đối tượng mà nó khái quát.

Loading...

Trong Đại cáo Bình Ngô (1428), Nguyễn Trãi viết:

“Xét nước Đại Việt ta từ trước.
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Bờ cõi sông núi đã riêng.
Phong tục Bắc, Nam cũng khác.
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, đều làm đế một phương.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau.
Song hào kiệt vẫn không hề thiếu”.

    Đọc áng văn trên, có thể thấy Nguyễn Trãi đã tiến một bước dài trong việc tìm kiếm khái niệm dân tộc, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh chống xâm lược. Quan niệm đó được hình thành trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, là cơ sở cho lý luận về dân tộc độc lập và quốc gia có chủ quyền. Khái niệm dân tộc có quan hệ gần gũi với một loạt các khái niệm khác như tổ quốc, xã tắc non sông, lãnh thổ, bờ cõi… đến mức mà trong những trường hợp nhất định, chúng có thể thay thế lẫn nhau. Chẳng hạn, Lê Văn Hưu, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi đều nói đến xã tắc. Vậy xã tắc là gì? “Xã tắc chính là thần đất <Thổ thần tức xã > phối hợp với thần lúa <tắc> để tượng trưng cho toàn thể gọi là xã tắc”. Trong Lễ hiến phù ở Chiêu Lăng, Trần Nhân Tông đã viết:

“Xã tắc hai phen phiền ngựa đá.
Non sông ngàn thuở vững âu vàng”.

Chính Nhuyễn Trãi đã dùng từ này để khẳng định quyền độc lập của dân tộc:

“Xã tắc từ đây bền vững.
Non sông từ đậy đổi mới.
Để mở nền muôn thuở thái bình.
Để rửa nỗi ngàn thu sỉ nhục”.

    Quan niệm về dân tộc của ông đã vượt xa Nho giáo để tiếp cận đến những tri thức hoàn toàn mới. Đó là sư kế thừa và phát triển tư tưởng dân tộc của các vị tiền bối, từ thời Lý nên Trần Quốc Tuấn, là sự nhận thức một cách tự giác, có sự bổ sung những tri thức mới khi lịch sử đã thay đổi. Đó còn là kết quả của sự suy ngẫm, của những phút giây thao thức, trăn trở “Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông“, của những thể nghiệm, những mất mát lớn lao, thậm chí phải đổi bằng máu của biết bao “dân đen, con đỏ“.

    Xem xét định nghĩa dân tộc của Nguyễn Trãi, chúng ta thấy, ông đã nêu lên 5 yếu tố thống nhất: văn hiến, lãnh thổ, phong tục, chính quyền, nhân dân mà đại biểu là người anh tài, hào kiệt. Định nghĩa của Nguyễn Trãi không nói đến yếu tố kinh tế, vì ông xuất phát từ thực tế hình thành dân Việt Nam có những nét độc đáo không giống như quy luật phổ biến của sự hình thành các dân tộc khác trên thế giới. Từ Sông núi nước Nam đến Bình Ngô đại cáo là sự tiếp thu, kế thừa và phát triển của quan niệm về quốc gia, dân tộc. Ở Sông núi nước Nam – tác phẩm được coi như bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất – người viết dõng dạc khẳng định nền tự chủ của dân tộc Việt Nam trên hai phương diện: biên giới lãnh thổ và chủ quyền:

“Nam quốc sơn hà Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”.

   Điều đó có nghĩa là Việt Nam phải được độc lập vì “sách trời” đã ghi… Nhưng đến Trần Quốc Tuấn, quan niệm đó đã có sự thay đổi: phải đánh đuổi giặc để bảo vệ quyền lợi cho gia tộc, đất nước, để rửa nhục cho nước. Sử gia Lê Văn Hưu (thế kỷ XII) quan niệm tổ quốc, dân tộc là “nhà tông miếu, nền xã tắc” , còn Trần Quốc Tuấn (thế kỷ XIII) quan niệm đó là “thái ấp, bổng lộc, đền đài, miếu mạo...”. Đến Nguyễn Trãi thì chúng ta đã có được “một quan điểm khá toàn diện, hoàn chỉnh về vấn đề dân tộc“. Với Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi xuất phát từ hoàn cảnh thực tế đất nước, từ quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, đã bổ sung, mở rộng, thể hiện bước tiến dài trong nhận thức về quốc gia: bên cạnh hai nhân tố cơ bản là ranh giới địa lí và quyền làm chủ, quốc gia Đại Việt được khẳng định vững vàng với truyền thống lịch sử rực rỡ (lịch sử dựng nước – đặt ngang hàng các triều đại phong kiến Việt Nam (Triệu, Đinh, Lí, Trần) với những vương triều hùng mạnh nhất trong lịch sử Trung Hoa (Hán, Đường, Tống, Nguyên), lịch sử đấu tranh bảo vệ đất nước – các triều đại phong kiến được Nguyễn Trãi đề cập đến gắn liền với những chiến thắng lẫy lừng trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền, độc lập của dân tộc); với nền văn hóa và những phong tục tập quán lâu đời; với con người, cụ thể là nhân tài hào kiệt. Khái niệm quốc gia dân tộc được mở rộng cả bề rộng lẫn chiều sâu, cả không gian lẫn thời gian, cả những yếu tố vật chất cụ thể lẫn những yếu tố văn hóa tinh thần.  
    Đặt vào bối cảnh ra đời của tác phẩm, ở Sông núi nước Nam tuy quan niệm về quốc gia còn khoác cái vỏ thần bí nhưng đã cho thấy một ý thức tự hào dân tộc sâu sắc. Ba chữ “quốc” (Việt Nam là một quốc gia độc lập), “đế” (vua nước Việt là hoàng đế), “cư” (người Việt Nam có quyền cai quản đất nước minh) thể hiện tinh thần tự chủ, niềm tự tôn dân tộc và niềm tin mạnh mẽ vào sự bình đẳng, ngang hàng giữa Việt Nam với Trung Hoa. Vào thời điểm sáng tác bài thơ, nước ta vẫn bị coi là một quận trực thuộc Trung Hoa, chưa được công nhận là một nước riêng (quốc). Vua Đại Việt không được công nhận là “vương” (vua nước chư hầu) chưa nói gì đến “đế” (người cai quản toàn thiên hạ, có quyền phong vương cho vua các nước chư hầu). Vì vậy, việc quản lí và làm chủ đất nước của người nước Nam với đất nước Nam (cư) cũng không được thừa nhận. Sông núi nước Nam là lời tuyên ngôn dõng dạc khẳng định Đại Việt, là một quốc gia độc lập, tự chủ. Nguyễn Trãi tiếp thu cái nhìn ấy. Lập luận của ông được triển khai theo hai hướng lồng ghép trong nhau: nhấn mạnh cái riêng của Đại Việt (khẳng định sự độc lập) trong sự đối sánh với Trung Hoa, từ đó nhấn mạnh vị thế ngang hàng, bình đẳng.

    Tóm lại, có thể nói với quan niệm về quốc gia, dân tộc của mình như thế Nguyễn Trãi là người đầu tiên đưa ra một khái niệm khá đầy đủ, hoàn thiện và đây cũng là một đóng góp của Việt Nam vào kho tàng lí luận, tư tưởng của thế giới mà ngày nay vẫn còn giữ nguyên giá trị.  Đồng thời đó cũng là một đóng góp quí báu vào di sản lí luận, tư tưởng về quốc gia, dân tộc của nhân loại.

>> XEM THÊM: Phân Tích Đoạn Nước Đại Việt Ta

>> XEM THÊM: Phân tích tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi

Phân tích quan niệm về quốc gia dân tộc của Nguyễn Trãi
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *