Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 11 / Hướng Dẫn Soạn Bài Hai Đứa Trẻ Lớp 11 Nâng Cao | Thạch Lam

Hướng Dẫn Soạn Bài Hai Đứa Trẻ Lớp 11 Nâng Cao | Thạch Lam

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Hai đứa trẻ của Thạch Lam (Bài làm của học sinh Nguyễn Quốc Khánh)

Đề bàiHướng Dẫn Soạn Bài Hai Đứa Trẻ Lớp 11 Nâng Cao của Thạch Lam

soan bai hai dua tre
Hướng Dẫn Soạn Bài Hai Đứa Trẻ Lớp 11 Nâng Cao | Thạch Lam

BÀI LÀM

I. TÌM HIỂU CHUNG:

1. Tác giả Thạch Lam: 

* Tiểu sử cuộc đời:

Loading...

– Tên khai sinh: Nguyễn Tường Vinh ( sau đổi thành Nguyễn Tường Lân)

– Sinh ra tại Hà Nội nhưng thuở nhỏ TL sống ở quê ngoại: phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương (một phố huyện nghèo in đậm trong tâm trí Thạch Lam). Cảnh tượng phố Huyện nghèo đó in rất đậm trong tâm trí Thạch Lam và đó trở thành không gian nghệ thuật, trở đi trở lại trong nhiều sáng tác của ông. Trong nhóm Tự lực văn đoàn, Thạch Lam là cây bút khiêm nhường, có phần lặng lẽ nhưng truyện ngắn của Thạch Lam có chất lượng nghệ thuật cao. Cuộc đời ngắn ngủi chỉ 6 năm cầm bút nhưng có nhiều đóng góp tích cực cho nền văn xuôi Việt Nam. Thạch Lam bước vào văn đàn từ năm 1933 nhưng ông bắt đầu được mọi người biết đến bắt đầu từ năm 1936. Ông mất tại Hà Nội vào ngày 28/6/1942. Gia đình Thạch Lam là một gia đình có truyền thống nho học, ông là con thứ 6 thiệt thòi hơn so với hai anh ruột là Hoàng Đạo và Nhất Linh. Hai của Thạch Lam được học hành ở Hà Nội từ nhỏ.

– Là người thông minh, tính tình điềm đạm, trầm tĩnh và rất tinh tế. ít khi bộc lộ thái độ một cách thái quá và lộ liễu

– Đỗ tú tài làm báo và viết văn.

– Là em ruột của Nhất Linh ( Nguyễn Tường Tam) Hoàng Đạo ( Nguyễn Tường Long ) Cả ba anh em đều là thành viên trụ cột của nhómTự Lực Văn Đoàn).

– Có quan niệm văn chương lành mạnh, tiến bộ và có biệt tài về truyện ngắn. Thạch Lam quan niệm:

 “Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”.

– Truyện ngắn TL thường không có cốt truyện, hoặc không có cốt truyện đặc biệt. Có sự đan xen giữa yếu tố hiện thực và yếu tố lãng mạn).

* Sự nghiệp:

– Đề tài: Viết về cuộc sống vất vả, cơ cực, bế tắc của người lao động nghèo; khai thác những khía cạnh bình thường mà nên thơ cuộc sống.

– Phong cách nghệ thuật: Truyện không có cốt truyện chủ yếu khai thác nội tâm nhân vật, yếu tố hiện thực và trữ tình đan xen vào trong một tác phẩm.

Thạch Lam quan niệm con người phải có ý thức về đời sống tâm hồn và ông cho rằng con người ta hơn nhau chính là ở đó và đáng tự hào cũng là vì điều đó. Con người vốn là một động vật phiền phức, con người không đơn giản mà con người có một cuộc sống phong phú đôi khi có những hoàn cảnh éo le mà không dễ gì hiểu về con người. Do vậy theo Thạch Lam người nghệ sĩ đích thực phải là người thấu hiểu điều đó và diễn tả nó được điều đó bằng ngòi bút của mình.

– Tỏc phẩm tiêu biểu.

+ Truyện ngắn: Gió lạnh đầu mùa (1937 ); Nắng trong vườn (1938); Sợi tóc (1942);

+ Tùy bút. Hà nội băm sáu phố phường ( 1943)

+ Tiểu thuyết: Ngày mới ( 1939)

+ Tiểu luận (theo dòng)

+ Ông mở đầu cho lối viết truyện không có cốt truyện hoặc không có cốt truyện đặc biệt…

+Thạch Lam tuy thuộc khuynh hướng lãng mạn nhưng cú tác phẩm nghiêng hẳn về hiện thực VD. Nhà mẹ Lê.

+ Có tác phẩm đan xen giữa hiện thực và lãng mạn: Ví dụ Hai đứa trẻ ( 1938 ).

2. Văn bản: Hai đứa trẻ:

* Xuất xứ:

-Trích từ tập truyện ngắn Nắng trong vườn xuất bản 1938.

– Truyện không có truyện ( Cốt truyện rất đơn giản )

– Truyện ngắn trữ tình. ( Cú cấu tứ như một bài thơ )

– Bối cảnh từ quê ngoại của tác giả: Phố Huyện ga xép Cẩm Giang tỉnh Hải Dương.

* Thể loại và bố cục:

– Thể loại: truyện ngắn trữ tình: cốt truyện đơn giản hầu như là không có cốt truyện, đậm chất trữ tình và chất thơ.

– Bức tranh phố huyện được miêu tả theo trình tự thời gian theo ba cảnh:

+ Từ đầu đến “Tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng” cảnh phố huyện khi chiều xuống.

+ Tiếp đến … có những cảm giác mơ hồ khó hiểu. Cảnh phố huyện về đêm.

+ Còn lại … cảnh phố huyện khi về khuya có chuyến tàu đi qua.

II. ĐỌC HIỂU:

1. Bức tranh đời sống nơi phố huyện nghèo

– Khung cảnh của truyện được mở ra vào thời gian chiều tối, thời gian kết thúc một ngày và mở ra đêm tối. Tác phẩm mở đầu bằng âm thanh của tiếng trống thu không gọi chiều về, cùng những đám mây hồng ở phương tây sắp tàn và kết thúc tác phẩm cào lúc đêm khuya cả phố huyện yên tĩnh và tràn ngập bóng tối. Sự lựa chọn này của nhà văn không phải là sự ngẫu nhiên, với việc lựa chọn như vậy tác giả đã tạo cho người đọc cảm giác man mác buồn. Vì đây là khoảng thời gian với người giàu có là kéo dài cuộc ăn chơi còn với người nghèo thì cuộc sống sinh nhai vẫn tiếp diễn, lấy đêm làm ngày để thắp lên hi vọng ngày mai.

– Tác phẩm được mở ra trong không gian yên tĩnh, êm đềm của buổi chiều quê hương. Một không gian có vẻ đẹp thơ mộng nhưng cũng gợi buồn xao xác

a. Cảnh vật lúc chiều tối và đêm xuống: 

Toàn bộ câu chuyện, cảnh vật, cuộc sống con người đều được cảm nhận và miêu tả qua cái nhìn của nhân vật Liên.

Tác giả đặt nhân vật Liên ở ngôi thứ ba khiến câu chuyện mang tính khách quan, bình thường như bao chuyện đời thường trong câu chuyện đời thường của cuộc sống mà ông đó từng chứng kiến

* Cảnh chiều tàn:

Cảnh ngày tàn được thể hiện qua âm thanh và hình ảnh:

+ Âm thanh: tiếng trống thu không, tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng, tiếng muỗi vo ve trong các cửa hàng hơi tối…

=> Âm thanh đơn điệu buồn bã

+ Hình ảnh: Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại…

+ Đường nét: dãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời. => gợi cảnh tàn lụi.

=> Dù không đưa đến cho người đọc thật nhiều cảnh vật, nhưng nhờ nhấn mạnh đặc trưng cảnh chiều nơi làng quê, với những câu văn êm dịu, với những âm thanh và hình ảnh báo hiệu một ngày tàn nhà văn đã đưa ta đến với một buổi chiều quê yên ả từ đó làm nảy sinh trong lòng người đọc những tình cảm yêu mến.

=> Cảnh đẹp buồn, quen thuộc gần gũi mang cốt cách Việt Nam

Diện mao phố huyện được Thạch Lam tái hiện là một khung cảnh buồn, là cảnh chiều tàn đi dần vào đêm khuya. Hàng ngàn, những cái ồn ào của buổi sáng làm không khí bị nhoè đi trong nắng như đến chiều thì cái bộ mặt thật của phố huyện hiện ra với tất cả những cỏi tiêu điều, xác xơ, tàn lụi. “Chiều chiều rồi” như là một lời thảng thốt, bàng hoàng như một tiếng thở dài. Thế là một buổi chiều nữa lại đến, chiều là buồn. Ấn tượng về buổi chiều khá sâu đậm thể hiện ngay ở phần đầu của tác phẩm.

* Cảnh chợ tàn

– Chợ đã vãn từ lâu, không một tiếng ồn ào, người cũng về hết, chỉ còn một vài người bán hàng về muộn đang thu xếp hàng hoá

– Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị và lá nhãn

– Mấy đứa trẻ con nhà nghèo nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ thứ gì của những người bán hàng để lại..

– Một mùi âm ẩm bốc lên => mùi riêng của đất

=> Cảnh chợ tàn ở phố huyện Cẩm Giàng và cũng là của nhiều phố huyện nghèo ngày xưa

Thạch Lam đã chọn một phiên chợ tàn để nói lên được tất cả bộ mặt của phố huyện. Chợ là nơi biểu hiện sức sống của một làng quê, biểu hiện thuần phong mĩ tục của làng quê. Người ở nông thôn thường trông chờ vào ngày chợ phiên đông vui tấp nập. Thạch Lam đã chọn ngày chợ phiên để nói cái xác xơ tiêu điều của phố huyện. Mặc dù không tả buổi chợ phiên nhưng ông đó tả những phế phẩm còn lại của buổi chợ, đó cũng là cách biểu hiện sức sống đầy hay vơi của phố huyện. Tả những con người cuối cùng trao đổi với nhau rồi bước vào các ngõ tối. Rác chỉ là những thứ phế thải vớ vẫn “rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lỏ nhãn và bã mía, những thanh nứa thanh tre…Lũ trẻ vẫn còn ra bòn mót, nhặt nhạnh. Ngày chợ phiên như thế thì sức sống đã kém lắm, đã yếu lắm rồi. Người bán trông vào người mua và ngược lại nhưng chỉ là sự vô vọng, lẩn quẩn, trông chờ vào sự vô vọng. Mùi vị toả ra trong không gian này là một thứ mùi đặc trưng để nói tới sự nghèo nàn. Đó là mùi bã mía, vỏ bưởi, vỏ thị, đất ẩm,… Cái mùi vị ấy cũng gúp phần làm cho khung cảnh thêm phần tàn tạ héo úa, lụi dần.

* Cảnh phố huyện lúc về đêm và đêm khuya:

– Trên trời ngàn ngôi sao lấp lánh.

– Dưới đất tương phản giữa ánh sáng và bóng tối.

– Phố huyện vào đêm được gợi tả bằng những hình ảnh bóng tối và ánh sáng cứ trở đi trở lại, đặc biệt là hình ảnh bóng tối tạo nên ám ảnh không dứt trong lòng người đọc.

Như tên tác phẩm đó là truyện của hai đứa trẻ nhưng cũng là truyện của cả một phố huyện nghèo với những con người nhỏ bé tội nghiệp đang âm thầm đi vào đêm tối. Đêm tối đã trở thành cài nền thiên nhiên cho bức tranh đời sống phố huyện nghèo nó trở thành hình ảnh nghệ thuật đặc sắc có sức lay động và ám ảnh mạnh mẽ.

– Toàn bộ bức tranh là bóng tối, bóng tối lan toả bao trùm cảnh vật tạo nên bầu không khí nặng nề u uất: bóng tối ở rặng tre (ngay phần mở đầu); bóng tối nơi góc quán; đường phố và các ngõ dần chứa đầy bóng tối…(sgk cuối tr98). Người đọc không chỉ nhận ra bóng tối của thiên nhiên và của không gian và thời gian mà còn bóng tối của cuộc đời, của những kiếp người nơi phố huyện. Một bức tranh thiên nhiên đẹp được vẽ lên bằng nét bút tinh tế lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu xa. Có lẽ vì vậy mà hình ảnh bóng tối được lặp đi lặp lại không dưới 30 lần trong tác phẩm.

 

– Nhà văn đã sử dụng thủ pháp đối lập giữa bóng tối và ánh sáng: Trên nền bóng tối, ánh sáng của phố huyện thật yếu ớt, bị lấn át, lúc nào cũng chực bị tắt đi. Đó là:

+ Ánh sáng của ngọn đèn nhà ai chỉ hắt qua khe cửa

+ Ánh sáng lay động của những ngọn trên chõng hàng chị Tý.

+ Chấm lửa vàng mơ hồ của bác phở Mĩ cứ khuất dần về phía huyện trong đêm tối.

+ Ánh lửa hắt ra từ gánh phở của bác Siêu cũng chỉ đủ soi cái bóng tảo tần của bác mênh mang cả một vùng đất.

+ Rồi các hột sáng hắt qua phiên nứa của chị em Liên.

+ Và cả ánh sáng xa xôi của các ngôi sao trên nền trời không đủ lôi kéo con người đến tận cùng.

=> Bấy nhiêu thứ ánh sáng, bấy nhiêu ngọn đèn nhưng không đủ làm sáng lên một vùng đêm tối may chăng chỉ làm cho người ta nhận ra một vùng đất cát, cái chậu sắt trắng của bác Sẩm, cái bóng tảo tần của bác phở Siêu. Nó giờ đây không còn là biểu tượng của sự sống mà chỉ gợi lên một sự sống lay lắt tù mù, tất cả chực tắt đi trước bóng tối hư vô của cuộc đời.

           Bóng tối             ánh sáng
– Trời nhá nhem tối “ cát lấp lánh từng chỗ, đường mấp mô thêm…..”

– Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối

– Tối hết cả con đường thăm thẳm ra sông….sẫm đen hơn nữa.

=>Bóng tối đầy dần

– Đèn hoa kì leo lét, đèn dây sáng xanh..

– Một khe ánh sáng

Vệt sáng của những con đom đóm..

Quầng sáng thân mật chung quanh

– Một chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối

– Thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa

=> yếu ớt, le lói

=> Bóng tối át cả ánh sáng, một vài ánh sáng nhỏ nhoi khiến bóng tối càng thêm dày đặc.

– Bức tranh thiên nhiên phố huyện nghèo thật yên tĩnh thanh bình, tuy buồn nhưng thơ mộng. Miêu tả được bức tranh như vậy cho thấy tâm hồn của nhà văn vừa hiện thực vừa lãng mạn mà thấm đẫm tinh thần dân tộc và tình yêu quê hương tổ quốc.Thế nhưng Hai đứa trẻ không chỉ là bức tranh thiên nhiên mà trước hết là bức tranh đời sống của những con người nơi phố huyện nghèo được cảm nhận qua tâm hồn ngây thơ nhạy cảm của hai đúa trẻ đó là Liên và An. 

Hướng Dẫn Soạn Bài Hai Đứa Trẻ Lớp 11 Nâng Cao | Thạch Lam
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

soan bai khai quat van hoc viet nam

Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Lớp 11 | Làm Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Khái quát văn học Việt Nam …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *