Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 11 / Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Lớp 11 | Làm Văn Mẫu

Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Lớp 11 | Làm Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945 (Bài làm của học sinh Hoàng Minh Khuê)

Đề bàiSoạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Lớp 11

soan bai khai quat van hoc viet nam
Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Lớp 11 | Làm Văn Mẫu

BÀI LÀM

I. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945:

1. Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hoá:

a. Nguyên nhân:

Loading...

– Thực dân Pháp hoàn thành việc xâm lược và đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa. XHVN chuyển từ XHPK ” XHTD nửa PK với sự ra đời của các giai cấp và tầng lớp mới (tư sản, tiểu tư sản, công nhân ” dân trí phát triển, đòi hỏi thứ văn chương mới.)

– Văn hoá:Thoát dần ảnh hưởng của văn hoá PK Trung Hoa và tiếp xúc với văn hoá phương Tây( chủ yếu là Pháp). ảnh hưởng lớn đến ý thức, tình cảm của người cầm bút và người đọc.

– Chữ Quốc ngữ thay dần chữ Hán, Nôm trong nhiều lĩnh vực. Tạo điều kiện cho công chúng tiếp xúc với với sách báo.  Các nhà in phát triển . Viết văn trở thành nghề để kiếm sống.

– Đảng cộng sản VN, 1943 với đề cương văn hoá VN. Đây là nhân tố quan trọng tạo đk cho văn hoá phát triển theo chiều hướng tiến bộ và cách mạng.

– Xuất hiện tầng lớp trí thức Tây học dần thay thế cho tầng lớp trí thức nho học

=> Đó là những cơ sở, tiền đề  cho sự phát triển của văn học Việt Nam theo hướng hiện đại hoá.

b. Hiện đại hoá nền văn học:

Là quá trình làm cho VH thoát khỏi hệ thống thi pháp TĐ, đổi mới theo hình thức VH phương Tây, có thể hội nhập với nền VH hiện đại thế giới.

 

c. Nội dung hiện đại hoá:

– Chữ viết: chữ quốc ngữ.

– Quan niệm văn học: từ quan niệm “văn chương chở đạo” và “ Thi dĩ ngôn chí” chuyển sang quan niệm văn chương như một hoạt động đi tìm cái đẹp, văn chương để nhận thức và khám phá hiện thực.

– Quan niệm thẩm mĩ thoát khỏi hệ thống thi pháp cũ của văn học trung đại (tính quy phạm, ước lệ)

– Chủ thể sáng tạo họ là những văn nghệ sĩ mang tính chuyên nghiệp.

– Công chúng văn học là tầng lớp thi dân.

– Các thể loại văn học mới xuất hiện: kịch nói, phóng sự, phê bình văn học…

3. Quá trình hiện đại hoá: 3 bước

+ Từ đầu thế kỉ XX đến 1920

+ Từ đầu những năm 20 đến 1930

+ Từ đầu những năm 30 đến 1945

* Giai đoạn 1: Từ đầu TK XX đến 1920.

– Chữ Quốc ngữ phát triển rộng rãi

– Báo chí và dịch thuật phát triển rầm rộ thúc đẩy sụ hình thành và phát triển của văn xuôi quốc ngữ

tác phẩm mở đầu được viết bằng chữ quốc ngữ là Thầy Lazarô phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản đánh dấu sự mở đầu của văn xuôi truyện ngắn Việt Nam bằng chữ quốc ngữ.

– Một số tác phẩm tiêu biểu:

+ Hoàng Tố Anh hàm oan của Trần Chánh Chiếu (1910)

+ Thơ văn Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế,… tuy có thay đổi về nội dung nhưng ngôn ngữ văn tự, thi pháp vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại.

– Thành tựu của giai đoạn này là bộ phận văn thơ yờu nước của các chí sĩ cách mạng: Phan Bội Chõu, Phan Chu Chinh, Ngô Đức Kế viết bằng chữ Hán theo thi pháp trung đại.

=> Nhìn chung giai đoạn này chỉ mới đổi mới nội dung tư tưởng chứ chưa đổi mới về nghệ thuật. Mới chỉ chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho công cuộc hiện đại hoá văn học.

*  Giai đoạn 2: Từ 1920 đến 1930

– Thành tựu văn xuôi: Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách, truyện ngắn của Nguyễn Bỏ Học, Phạm Duy Tốn, bỳt kớ của Phạm Quỳnh, Đông Hồ …

– Thành tựu thơ: tiêu biểu có Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải

– Kịch nói: loại hình mới du nhập từ phương Tây. Tiêu biểu có kịch “ chén thuốc độc” của Vũ Đình Long

Ngoài ra cũn cú các tác phẩm của các nhà ỏi quốc đang hoạt động ở nước ngoài như: “ Ngục trung thư”, “Trùng Quang tâm sử” của Phan Bội Châu , hàng loạt kí sự của Phan Chu Trinh, truyện và kịch Nguyễn Ái Quốc (Kịch Con rồng tre; Truyện ngắn Vi hành)

=> Nhiều yếu tố của văn học trung đại vẫn tồn tại từ nội dung đến hình thức của văn học giai đoạn này.

* Giai đoạn 3: Từ 1930 đến 1945

– Giai đoạn hoàn tất quá trình hiện đại hoá với nhiều cuộc đổi mới sâu sắc trên mọi thể loại:

– Văn xuôi:

 Truyện ngắn và tiểu thuyết được viết theo lối mới từ cách xây dựng nhân vật đến nghệ thuật kể chuyện:

+ Tiểu thuyết của nhóm tự lực văn đoàn…

+ Tiểu thuyết hiện thực: Nam Cao…

+ Truyện ngắn: Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam…

+ Phóng sự: Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố…

Bút ký, tuỳ bút: Nguyễn Tuân, Xuân Diệu…

– Thơ ca đổi mới và phát triển mạnh mẽ với những tên tuổi sáng chói:

+ Thơ Mới: Thế Lữ, Xuân Diệu, Chế Lan Viên…

+ Thơ ca cách mạng: Tố Hữu, Hồ Chí Minh…

– Kịch: Vũ Đình Long, Nguyễn Huy Tưởng…

– Nghiên cứu phê bình: Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan.

=>Có thể nói giai đoạn thứ 3 là giai đoạn thể hịên rõ nhất quá trình hiện đại hoá. Nêu giai đoạn 1,2 (1900- 1930) vẫn còn gặp nhiều trở ngại do sự níu kéo của cái cũ, hai giai đoạn đó mới chỉ dừng lại ở giai đoạn giao thời. VH giai đoạn 3 này đó cú tiếng núi chung với văn học thế giới, đó thực sự hiện đại, có thể hội nhập vào nền văn học thế giới.

2. Văn học hình thành hai bộ phận và phân hóa thành nhiều xu hướng, vừa đấu tranh với nhau, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển: 

a. Nguyên nhân của sự phân hóa:

– Khác nhau về khuynh hướng thẩm mĩ và quan điểm nghệ thuật.

– Do sự chi phối ảnh hưởng của chính sách kinh tế văn hoá của thực dân Pháp. Đặc biệt là sự ảnh hưởng của các phong trào yêu nước, phong trào giải phóng dân tộc diễn ra gần suốt nửa thế kỷ cho đến cách mạng tháng Tám năm 1945.

– Do thái độ chính trị của các nhà văn. (trực tiếp chống Pháp hoặc gián tiếp)

– Căn cứ vào phương thức phản ánh hiện thực mà người ta chia ra các xu hướng khác nhau.

 => đã làm cho văn học có sự phân hoá sâu sắc.

b. Bộ phận văn học công khai:

– Là bộ phận văn học hợp pháp, tồn tại và phát triển trong vòng pháp luật của chính quyền thực dân phong kiến.

– Hai xu hướng văn học: văn học lãng mạn; văn học hiện thực.

* Văn học lãng mạn:

Tiếng nói của cá nhân tràn đầy cảm xúc; phát huy cao độ trí tưởng tượng diễn tả khát vọng, ước mơ. Con người là trung tâm vũ trụ, đề cao cái tôi cá nhân.

Bất hoà với thực tại, thoát ly vào đời sống nội tâm, vào thiên nhiên, tình yêu, tôn giáo…

Chú trọng diễn tả những cảm xúc, tình cảm mạnh mẽ, những tương phản gay gắt, những biến thái tinh vi trong tâm hồn con người.

– Thức tỉnh ý thức cá nhân, chống lại sự ràng buộc của lễ giáo PK, giải phóng cá nhân, giành quyền hạnh phúc trong TY, hôn nhân.

– Hạn chế: ít gắn với đời sống chính trị của đất nước, đôi khi quá đề cao chủ nghĩa cá nhân cực đoan.

Điều đó chúng ta bắt gặp ngay trong khúc dạo đầu của bài thơ” Cây đàn muôn điệu” của Thế Lữ chúng ta đã thấy được những thanh âm của nghệ thuật vị nghệ thuật ( Nghệ thuật chỉ phục vụ cho nghệ thuật không cần phục vụ cho bất kì mục đích nào:

“ Không chuyên tâm không chủ nghĩa không cần chi.

Tôi chỉ là một khách tình si.

Ham cái đẹp muôn hình muôn vẻ.

Mượn lấy bút nàng Ly Tao tôi vẽ,

Và mượn cây đàn ngàn phím tôi ca”.

Đó chính là hạn chế của văn học lãng mạn

* Xu hướng văn học hiện thực:

– Phơi bày thực trạng bất công, thối nát của XH đương thời; phản ánh cuộc sống khốn khổ của các tầng lớp nhân dân với sự cảm thông sâu sắc.

– Phản ánh mâu thuẫn giàu nghèo trong XH, đấu tranh chống áp bức, bất công.

– Thái độ của các nhà văn là phản ánh hiện thực một cách khách quan, cụ thể và xây dựng được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình.

– Hạn chế: Nhìn con người là nạn nhân bất lực của hoàn cảnh, chưa chỉ ra tiền đồ cho họ.

=> Hai xu hướng này không có ranh giới rạch ròi, không đối lập nhau về giá trị; cùng tồn tại và phát triển song song.

c. Bộ phận VH không công khai: (ngoài vòng pháp luật):

– Đó là bộ phận văn học cách mạng của các chí sĩ yêu nước được sáng tác ở trong tù hoặc ở nước ngoài. Bộ phận văn học này bị đặt ra khỏi vòng pháp luật của chế độ thực dân nửa phong kiến.

+ Ở bộ phận văn học này văn học được coi là vũ khí chiến đấu với kẻ thù và là phương tiện truyền bá tư tưởng cách mạng và yêu nước.

Ví dụ:

“Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng.

Một ngòi lông mà trống mà chiêng”

                                                                                           (Phan Bội Châu.)

“Nay ở trong thơ nên có thép.

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.”

                                                                                            (Hồ Chí Minh.)

+ VHCM đã đánh thẳng vào bọn thống trị, thực dân, bè lũ tay sai và nói lên khát vọng độc lập dân tộc, niềm tin vào tương lai đất nước.

( Thơ văn PBC, PCT… sáng ngời hình ảnh người chiến sỹ hiên ngang, bất khuất. Thơ HCM, Tố Hữu khắc hoạ rõ hình ảnh con người thời đại mới sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng).

+ Văn học yêu nước phát triển cùng với sự phát triển phong trào yêu nước của cách mạng Việt Nam.

=> Các bộ phận VH, các xu hướng VH có sự khác biệt về khuynh hướng tư tưởng, về quan điểm nghệ thuật. Song chúng có tác động lẫn nhau để cùng phát triển. Vì thế đã tạo nên sự phong phú, đa dạng và phức tạp của VH thời kỳ này.

3. Văn học phát triển với một tốc độ hết sức nhanh chóng: 

* Tốc độ: Phát triển với tốc độ khẩn trương, mau lẹ (so với giai đoạn trước). Số lượng tác giả, tác phẩm lớn; thể loại đa dạng.

* Nguyên nhân:

– Sự thúc bách của thời đại, của XH (VH phải đáp ứng nhu cầu của cuộc sống)

– Sức sống mãnh liệt của nền VH nước nhà (lòng yêu nước, tinh thần dân tộc) được sự tiếp sức bởi các PTCM và sự lãnh đạo của ĐCS.)

– Sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân

– Văn chương đã trở thành một thứ hàng hoá, viết văn trở thành một nghề để kiếm sống. Tốc độ cực kỡ mau lẹ, gấp nhiều lần thời kỡ trước nhất là giai đoạn 1930 – 1945. Toàn diện trên tất cả thể loại; số lượng tác giả tác phẩm; tuổi đời các nhà văn đều trẻ trung từ 20 – 30 tuổi: Chế Lan Viên 17 tuổi với Điêu Tàn. Xuân Diệu 22 tuổi mới nhất trong các nhà thơ mới. Vũ Trọng Phụng – Thạch Lam…Chất lượng tác phẩm có những kiệt tác trong phong trào thơ mới hay truyện ngắn, tiểu thuyết hiện thực…..

>> XEM THÊM: Soạn bài Khái quát văn học Việt Nam tiếp theo

Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Lớp 11 | Làm Văn Mẫu
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

soan bai khai quat van hoc viet nam

Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Lớp 11 Tiếp Theo |Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Khái quát văn học Việt Nam …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *