Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 9 / Soạn Bài Kiểm Tra Phần Tiếng Việt Lớp 9 | Văn Mẫu

Soạn Bài Kiểm Tra Phần Tiếng Việt Lớp 9 | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 9) – Em hãy soạn bài Kiểm tra phần tiếng Việt (Bài làm của học sinh Dương Thu Trang)

Đề bài: Soạn Bài Kiểm Tra Phần Tiếng Việt Lớp 9 | Văn Mẫu

Bài Làm

Câu 1: Phân tích nét nổi bật của việc dùng từ láy ở bốn câu thơ trong Truyện Kiều (Nguyễn Du)

    Bốn câu thơ là hình ảnh của cảnh vật trên đường chị em Thúy Kiều du xuân trở về. Những cảnh này cũng thấm đẫm tâm trạng của nhân vật mà Nguyễn Du muốn gửi tới người đọc. Cảnh vật ấy, tâm trạng ấy được thế hiện rất rõ qua cách sử dụng các từ láy của đoạn thơ.

    Những từ láy trong những câu thơ trên là: nao nao, nho nhỏ, sè sè, rầu rầu. Những từ láy này vừa có tác dụng tả cảnh, vừa lả lâm trạng nhân vật. Nó gợi vẻ hoang vắng, buồn tẻ của ngôi mộ vô chủ và tâm trạng nao nao buồn của ba chị em Thúy Kiều vào thời điểm cuối ngày hội đạp thanh đồng thời báo hiệu một sự kiện sắp xảy ra. Sè sè, rầu rầu trong câu thơ đã diễn tả được tâm trạng se sắt, rầu rĩ của Thúy Kiều trước số phận một con người tài sắc bạc mệnh như Đạm Tiên, như báo hiệu cho một số phận đầy biến động và lo âu của nàng sau này.

>> XEM THÊM: Soạn Bài Ôn Tập Và Kiểm Tra Phần Tiếng Việt

>> XEM THÊM: Soạn Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt

Câu 2:

– Lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều:

      + Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”.

         Hỏi quê rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.

      + Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều”.

         Mối rằng: “Giá đáng nghìn vàng.

        Dớp nhà nhờ lượng người thương dám nài!”.

– Về cách xưng hô, nói năng của Mã Giám Sinh và bà mối đã thể hiện rõ bản chất, tính cách của từng người:

     + Mã Giám Sinh: ăn nói cộc lốc, vô học, thái độ trịnh thượng.

     + Bà mối: đưa đẩy, vòng vo, giả tạo.

Câu 3:

a)

– Lời dẫn trực tiếp: “Có lẽ các bà đều rất tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt…”

– Lời dẫn gián tiếp: “Ngày trước, trước kia, đã có thời…”

–  Không phải là lời dẫn: “Cuộc sống buồn tẻ của chúng; về những con chim tôi bẫy được đang sông ra sao và nhiều chuyện trẻ con khác; tôi kể chuyện cổ tích.”

b)  Nhân vật “thằng lớn” phải dùng từ có lẽ trong lời nhận xét của mình vì đó là suy nghĩ phỏng đoán, chưa chắc chắn là đúng hoàn toàn. Như vậy, nhán vật thằng lớn đã tuân thủ phương châm hội thoại về chất.

Loading...
soan bai kiem tra phan tieng viet
Soạn Bài Kiểm Tra Phần Tiếng Việt Lớp 9 | Văn Mẫu

Câu 4:

a) Tác giả sử dụng biện pháp so sánh trong hai câu thơ:

               Như anh với em, như Nam với Bắc 

              Như đông với tây một dải rừng liền. 

Thông qua phép tu từ, tác giả muốn khẳng định giữa anh và em, giữa hai miền Nam và Bắc tuy khác nhau mà là một, giống như mây, mưa, khí trời, … của hai bên Trường Sơn tuy khác nhau mà lại liền một dải núi.

b) Thạch Lam sử dụng biện pháp ẩn dụ, so sánh ngầm giữa tâm hồn con người rung động trước vẻ đẹp và sự cao quý với sợi dây đàn. Qua đó muốn khẳng định con người chỉ thực sự là người khi biết rung động trước vẻ đẹp và sự cao quý, giống như sợi dây đàn sẵn sàng rung động trước mọi vẻ đẹp.

c) Đoạn văn của Thép Mới sử dụng biện pháp nhân hóa và điệp ngữ, tre được nhân hoá như người, điệp ngữ: tre, giữ, anh hùng, cho thấy tre có vai trò và ý nghĩa to lớn trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù, bảo vệ độc lập của dân tộc.

Câu 5:

Những cách nói có sử dụng phép nói quá: chưa ăn đã hết, một tấc đến trời, một chữ bẻ đôi không biết, cười vỡ bụng, rụng rời chân tay, tức lộn ruột, tiếc đứt ruột, ngáy như sấm, nghĩ nát óc, đứt từng khúc ruột.

>> XEM THÊM: Soạn bài Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt

Soạn Bài Kiểm Tra Phần Tiếng Việt Lớp 9 | Văn Mẫu
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

Soạn Bài Chiếc Lược Ngà Của Nguyễn Quang Sáng | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 9) – Em hãy soạn bài Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng (Bài làm …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *