Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 11 / Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Trung Đại Việt Nam Lớp 11 | Văn Mẫu

Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Trung Đại Việt Nam Lớp 11 | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Ôn tập văn học trung đại Việt Nam (Bài làm của học sinh Nguyễn Xuân Quang)

Đề bài: Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Trung Đại Việt Nam Lớp 11

soan bai on tap van hoc trung dai
Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Trung Đại Việt Nam Lớp 11 | Văn Mẫu

BÀI LÀM

II. PHƯƠNG PHÁP:

1. Câu 1: 

STT Tên tác giả Tên tác phẩm Nội dung – nghệ thuật
1 Lê Hữu Trác Vào phủ chúa Trịnh – Phản ánh hiện thực, nhân cách thanh cao của LHT

Loading...

– Kể,tả trung thực, thái độ, tâm trạng đúng mực,giọng thoáng mỉa mai.

2

2. Câu 2:

* Tư duy nghệ thuật:

– Theo kiểu mẫu, công thức (quy phạm): tùng, cúc, trúc, mai…

VD: mùa thu câu cá: + Thu thiên

+ Thu thuỷ

+ Thu diệp

+ Ngư ông

– Sáng tạo trong tính quy phạm:

VD: Mùa thu câu cá:

+ Cảnh thu mang những nét riêng của mùa thu Bắc bộ như : ao làng…; nước…; ngõ trúc…

+ Vàn “eo” gợi cảm giác không gian, ngoại cảnh và tâm cảnh như tĩnh lặng, thu hẹp dần.

* Quan niệm thẩm mỹ:

Hướng về cái đẹp trong quá khứ, thiên về cái cao cả, tao nhã, ưa sử dụng điển tích, điển cố, thi liệu Hán học.

* Bút pháp nghệ thuật: thiên về ước lệ, tượng trưng.

VD: Bài ca ngắn đi trên bãi cát:

+ Hình ảnh bãi cát dài là môi trường, là XH, là con đường chông gai, nhọc nhằn mà con người buộc phải dấn thân để mưu cầu hạnh phúc.

+ Người đi đường là kẻ sỹ đang trên đường đi tìm lớ tưởng.

* Thể loại: Văn tế, hát nói, thơ Đường, ký sự…

* Đặc điểm của một số thể loại văn học trung đại: 

  • Thơ Đường

– Thơ Đường còn gọi là thơ Đường luật (thơ phải tuân thủ theo những quy định). Những quy định từ đời Đường và được bổ sung hoàn chỉnh ở các đời sau. Đây là thể thơ cổ điển nổi tiếng ở Trung Quốc và cũng là thành tựu của cả nhân loại.

– Thơ Đường có nhiều loại, thường gặp là

+ Thất ngôn bát cú (mỗi câu 7 tiếng, toàn bài có tám câu). Người ta còn gọi là bài bát cú. Tuỳ từng ý diễn đạt trong bài thơ, bài bát cú có bố cục khác nhau

+ Về luật đối: Hai câu thực đối nhau, hai câu luận đối nhau

+ Về luật bằng trắc: Trong mỗi câu thơ tiếng thứ hai và tiếng thứ sáu cùng thanh, đối với thanh của tiếng thứ tư. Đó là Nhị tứ lục phân minh ví dụ

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

B T B

T B T

Tiếng thứ 1, 3, 5 thì gieo bằng thanh nào cũng được gọi là nhất, tam, ngũ, bất luận. Nếu tiếng thứ 2 của câu 1 là thanh bằng, ta có mô hình

BB – TT – TBB

TT – BB – TTB

Liên 1
TT – BB – BTT

BB – TT – TBB

Liên 2
BB – TT – BTT

TT – BB – TTB

Liên 3
TT – BB – BTT

BB – TT – TBB

Liên 4

Mặt khác toàn bài chỉ dùng một vần thường là vần bằng gieo ở chữ cuối (tiếng thứ 7). Chính lệ có 5 vần (cuối câu 1 và chữ cuối câu chẵn). Ngoại lệ 4 vần gieo ở cuối câu chẵn. Nếu tiếng thứ hai của câu 1 là thanh trắc thì có mô hình Ví dụ

TT – BB – TTB

BB – TT – TBB

Liên 1
BB – TT – BBT

TT – BB – TTB

Liên 2
TT – BB – BTT

BB – TT – TBB

Liên 3

 

BB – TT – BBT

TT – BB – TTB

Liên 4
  • Hịch

– Một loại văn thời cổ mà vua chúa, tướng lĩnh hoặc người đứng đầu một tổ chức, một phong trào dùng để kêu gọi, cổ vũ mọi người hăng hái chiến đấu tiêu diệt kẻ thù. Bài hịch tiêu biểu của văn học trung đại là Dụ chư tì tướng (Hịch tướng sĩ văn) của Trần Hưng Đạo ở thế kỉ XIII. Hịch thường được viết theo lối văn tứ lục cũng có khi viết bằng văn xuôi hay thơ lục bát. Một bài hịch được cấu trúc theo ba phần.

Phần đầu: Nêu lên một nguyên lí đạo đức, chính trị làm cơ sở tư tưởng lí luận.

Phần giữa nêu thực trạng đáng chú ý (thường là kể tội kẻ thù)

Phần cuối nêu những giải pháp và lời kêu gọi chiến đấu. Hịch viết xong thường đưa vào ống hịch để các sứ giả truyền đi khắp nơi. Nếu là hịch khẩn cấp thì trên đầu ông hịch thường có một chùm lông gà (gọi là vũ hịch)

(Theo Từ điển thuật ngữ văn học – Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi)

  • Chiếu

Một loại văn thư nhà vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho thần dân. Thể văn này có từ Trung Quốc.

Chiếu có thể được viết bằng văn vần, văn xuôi hoặc văn biền ngẫu, văn học Trung đại có các bài Chiếu dời đô của Lí Thái Tổ, Chiếu xá thuế của Lí Thái Tông, Chiếu cầu hồn của Lê Thái Tổ và Chiếu cầu hiền của Quang Trung (do Ngô Thì Nhậm viết).

  • Cáo

– Một thể văn thư nhà vua dùng để ban bố cho thần dân nhằm trình bày một chủ trương, công bố kết quả một sự nghiệp. Bài cáo tiêu biểu và có giá trị nhất của văn học trung đại là Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi viết 1428 theo lệnh của Lê Lợi. Cáo thường được viết theo thơ văn biền ngẫu (Tài liệu đã dẫn).

  • Phú

Thể văn thực hành từ đời Hán Trung Quốc, dùng lối văn có nhịp điệu miêu tả trình bày sự vật, sự việc để biểu hiện tư tưởng tình cảm của tác giả. Phú có 4 loại chính.

– Cổ phú

– Bài phú

– Luật phú

– Văn phú

* Cổ phú thường dùng hình thức “Chủ – khách đối đáp”, không đòi hỏi đối cuối bài, thường kết lại bằng thơ.

* Bài phú là phú dùng hình thức biền văn, câu văn 4 chữ, 6 chữ, 8 chữ sóng đôi với nhau.

* Luật phú là phú đời Đường chú trọng đến đối, vần rất gò bó

*Văn phú là luật phá, đời Tống tương đối tự do, có dùng câu văn xuôi.

Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu thuộc loại cổ phú

  • Văn tế

Văn tế là loại văn thời cổ có nguồn gốc từ Trung Quốc. Mục đích tế trời đất, núi sông, tế thần thánh. Văn tế còn sử dụng tế khi được thăng quan tiến chức, tế mừng tuổi thọ. Về sau khi chôn cất người thân người ta cùng dùng văn tế để tưởng nhớ người đã mất. Ngày nay người ta gọi văn tế là điếu văn. Về hình thức, người ta có thể dùng văn vần, tản văn hoặc biến văn.

* Khi tế thần thánh, núi sông, trời đất thường có văn cầu chúc. Loại văn đó thường có tên gọi là Kì Văn hoặc Chúc Văn (Kì văn là văn tế lễ. Chúc văn là văn cầu chúc).

* Bài Văn tế sống vợ của Tú Xương, được coi là trường hợp loại biệt. Vì đây là tế người sống nhưng không rơi vào trường hợp được thăng quan tiến chức và mừng tuổi thọ.

  • Hát nói (Thơ hát nói)

– Một thể thơ thuần tuý Việt Nam, nảy sinh từ sớm nhưng thịnh hành vào thế kỉ XVIII – XIX. Lời thơ viết ra để hát theo điệu hát nói, một điệu ca trù có giá trị văn học cao nên người ta gọi là thơ hát nói.

Thơ hát nói là thể loại tổng hợp sử dụng nhiều loại câu dài ngắn khác nhau như ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát, câu đối ngẫu Đường luật, câu chữ Hán. Có câu chỉ bốn, năm chữ nhưng có câu dài tới chín, mười chữ hoặc nhiều hơn. Thơ hát nói thường sử dụng ngữ điệu có tính tự do, phóng túng thích hợp với tư tưởng phóng khoáng, không gò bó.

Tuy vậy, thơ hát nói có thể thức chặt chẽ của một loại thơ luật gồm:

+ Phần mưỡu Mưỡu là mấy câu lục bát đặt ở đầu bài (mưỡu đầu) hoặc ở cuối bài ( mưỡu hậu). Mưỡu đơn gồm hai câu lục bát. Mưỡu kép gồm nhiều câu hơn.

+ Hát nói  Gồm 11 câu chia là 3 trổ: 4 – 4 – 3.

 

  • Thơ cổ thể

Là loại thơ không gò bó vào luật như thơ Đường. Thơ cổ thể chữ Hán có các thể ba chữ, năm chữ, bẩy chữ hoặc tạp ngôn xen lẫn giữa ba chữ năm, bẩy chữ. Số câu không hạn chế. Vần trong thơ cổ thế là một vần xuyên suốt toàn bài hoặc thay đổi nhiều vần. Có thể là vần trắc, không nhất thiết vần bằng.

Bố cục thơ cổ thể có ba phần: Phần đầu và phần kết thường hô ứng với nhau. Thơ cổ thể còn được gọi bằng “Ca”, “Hành”, “Từ”.

Bài ca ngắn đi trên cát thuộc thơ cổ thể.

  • Điều trần

Điều trần là văn bản dưới thời phong kiến do bề tôi viết dâng lên vua, trình bày kế sách trị nước, viết thành từng điều liên quan tới quốc kế dân sinh. Loại văn bản này, thời xưa còn gọi là tấu, sớ, tấu khải. Văn bản điều trần mang tính nghị luận nhằm thuyết phục người nghe làm theo đề nghị của mình. Vì vậy lập luận phải chặt chẽ, chứng cứ xác thực, lại mềm dẻo tránh làm cho người nghe tự ái.

Trong lịch sử văn học Trung đại, có nhiều bản điều trần. Thất trảm sớ của Chu Văn An và gần 60 bản Điều trần của Nguyễn Trường Tộ là những bản tiêu biểu.

>> XEM THÊM: Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Trung Đại

Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Trung Đại Việt Nam Lớp 11 | Văn Mẫu
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

soan bai khai quat van hoc viet nam

Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Lớp 11 Tiếp Theo |Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Khái quát văn học Việt Nam …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *