Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 11 / Soạn Bài Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát Lớp 11 Của Cao Bá Quát / Văn

Soạn Bài Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát Lớp 11 Của Cao Bá Quát / Văn

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát (Bài làm của học sinh Nguyễn Phi Mạnh)

Đề bài: Soạn Bài Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát Lớp 11 Của Cao Bá Quát / Văn

BÀI LÀM

I. TÌM HIỂU CHUNG 

1. Tác giả:

* Cuộc đời, con người:

– Cao Bá Quát sinh năm 1809 và mất 1855. Người làng Phú Thị huyện Thuận Thành – Xứ Kinh Bắc. Nay là Phú Thị – Gia Lâm – Hà Nội.

– Dòng họ Cao vốn là dòng họ có truyền thống khoa bảng nhưng đến đời ông thân sinh Cao Bá Quát thì không đỗ đạt gì nhưng là một nhà Nho danh tiếng

– Là nhà thơ có tài năng và bản lĩnh, hoài bão lớn nhưng cuộc đời chịu nhiều sóng gió, đố kị chốn quan trường

– Cao Bá Quát hiệu là Chu Thần. Thi Hương từ năm 14 tuổi. Năm 23 tuổi đậu Cử Nhân. Sau đó cứ 3 năm một lần trong 9 năm dòng vào thi hội nhưng đều không đỗ. Năm 32 tuổi được gọi vào Huế nhận một chức tập sự ở bộ Lễ. Khi làm sơ khảo kì thi ở Thừa Thiên, ông đã dùng muội đèn chữa những lỗi phạm huý trong 24 quyển thi đáng được lấy đỗ. Việc lộ, Cao Bá Quát bị bắt giam tra tấn cực hình. Được tha, ông phải đi phục vụ phái đoàn công cán ở Xing-ga-po. Về nước, ông bị thải hồi. Bốn năm sau, ông được cử đi làm giáo Thụ ở Sơn Tây. Ông là người tài năng, nổi tiêng hay chữ, viết đẹp, nổi tiếng trong giới trí thức Bắc Hà và được tôn như bậc thánh “Thần Siêu thánh Quát”. Ông là người ôm ấp những hoài bão lớn, có ích cho đời. Một tính cách mạnh mẽ, một thái độ sống vượt khỏi khuôn lồng chật hẹp của chế độ phong kiến tù túng. Năm 1853, ông đã cùng nhân dân Mĩ Lương Sơn Tây nổi dậy chống lại triều đình nhà Nguyễn. Năm 1855 trong một trận đánh, ông bị quân triều đình bắn chết. Còn có nguồn tin là ông bị bắt xử chém và tru di ba họ. Ông để lại 1400 bài thơ, hơn hai chục bài văn xuôi. Một số bài phú Nôm, hát nói.

soan bai bai ca ngan di tren bai cat
Soạn Bài Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát Lớp 11 Của Cao Bá Quát / Văn

* Sự nghiệp

– Sự nghiệp: Ông để lại 1400 bài thơ, hơn hai chục bài văn xuôi. Một số bài phú Nôm, hát nói.

– Thơ văn Cao Bá Quát tập trung vào 4 chủ đề chính: Tình cảm gắn bó với quê hương – Tình nhân ái với người dân lao động – Lòng tự hào truyền thống dân tộc – Phê phán triều đình.Thơ văn của Cao Bá Quát mặc dù bị cấm đoán và thủ tiêu một phần nhưng di sản còn lại vẫn rất lớn

2. Văn bản:

* Hoàn cảnh sáng tác

– Hoàn cảnh sáng tác bài “Sa hành đoản ca” trong lúc đi thi Hội. Cũng có ý kiến cho rừng ông làm trong thời gian tập sự ở bộ Lễ triều đình Huế. Dù làm trong hoàn cảnh nào, bài thơ thể hiện tư tưởng bế tắc của kẻ sĩ chưa tìm thấy lối thoát trên đường đời.Một số tài liệu cho rằng: Cao Bá Quát đi thi Hội. Trên đường vào kinh đô Huế, qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng( Quảng Bình, Quảng Trị ), hình ảnh bãi cát dài, sóng biển, núi là những hình ảnh có thực gợi cảm hứngcho nhà thơ sáng tác bài thơ này.

* Thể thơ và bố cục

– Thể thơ: cổ thể – hành ca: một thể thơ cổ Trung Quốc, xuất hiện từ thời Nguỵ Tấn, truyền sang Việt Nam, có phần tự do về số tiếng, số câu, vần điệu, nhịp điệu.: Những bài cổ thể nổi tiếng: Hành lộ nan (Lí Bạch), Tì Bà hành (Bạch Cư Dị), Côn Sơn Ca (Nguyễn Trãi), Sở kiến hành (Nguyễn Du)…

– Bài thơ chia làm 3 đoạn

+ Đoạn 1: Bốn câu đầu diễn tả tâm trạng của người đi đường

+ Đoạn 2: Sáu câu tiếp miêu tả thực tế cuộc đời và tâm trạng chán ghét trước phường mưu cầu danh lợi.

+ Đoạn 3: Còn lại: Đường cùng của kẻ sĩ và tâm trạng bi phẫn, bế tắc và tuyệt vọng

II. ĐỌC – HIỂU

1. Bốn câu đầu:

– Mở đầu bài thơ là hình tượng bãi cát

+ Một sa mạc cát mênh mông (tiên đề bài thơ)

+ Một bãi cát dài vô tận.

+ Điệp ngữ: bãi cát

+ Từ ngữ: lại, dài

=> Dường như làm cho hình ảnh bãi cát dài, rộng mênh mông, dường như bất tận, nóng bỏng, trắng xoá, nhức mắt dưới ánh mặt trời. Đó là hình ảnh thiên nhiên đẹp dữ dội, khắc nghiệt của miền trung nước ta. Trứơc hết, đây là cảnh bãi cát thực, việc người đi trên cát cũng là thực – chính bản thân tác giả, từ sau năm 1831 – năm Cao Bá Quát thi đỗ cử nhân, đã nhiều lần đi qua những trảng cát dài mênh mông, trắng xoá, dọc bờ biển Quảng Bình, Quảng Trị, vào huế thi Hội. Đó cũng là cảnh mà Nguyễn Du sáng tạo trong Truyện Kiều: Bốn bề bát ngát xa trông; Cát vàng cồn nọ, bịu hồng dặm kia. Sau này, Tố Hữu trong bài Mẹ Suốt: Chang chang cồn cát, nắng trưa Quảng bình, và Xuân Quỳnh lấy làm tên một tập thơ: Gió lào cát trắng. Hình ảnh bãi cát mênh mông, dường như bất tận, nóng bỏng, trắng xoá, nhức mắt dưới ánh mặt trời. Những cơn gió lào qua dãy Trường Sơn đem cái khô rát, ào qua bãi cát, đổ ra biển Đông. Đó là hình ảnh thiên nhiên đẹp dữ dội, khắc nghiệt của miện trung nước ta.

– Hình ảnh người đi trên cát:

  + Bước đi trầy trật, khó khăn (Đi một bước như lùi một bước)

  + Đi không kể thời gian ( mặt trời lặn chưa nghỉ)

  + Mệt mỏi, chán ngán, cô đơn ( nước mắt rơi)

  + Nhịp điệu  diễn đạt sự gập ghềnh, trúc trắc của những bước đi trên bãi cát dài, tượng trưng cho con đường công danh đáng chán ghét

=> Người đi trên cát thật khó nhọc, thật mệt mỏi, cô đơnNgười đi trên cát thật khó nhọc. Bước chân như kéo lùi: đi một bước lại kéo lùi một bước. Khổ đến nỗi nước mắt rơi. Đó là việc thực mà chính là Cao Bá Quát là người trải nghiệm không chỉ một lần trên đường tìm công danh như bao nho sĩ khác. Đó là biểu tượng cho đường đời. Con đường hành đạo của kẻ sĩ. Con đường ấy dài vô tận nên xa xôi mờ mịt. Hình ảnh bãi cát: Tượng trưng cho môi trường xã hội, con đường đời đầy chông gai, gian khổ, nhọc nhằn.  Hình ảnh người đi trên cát:Tượng trưng cho con người buộc phải dấn thân trong cuộc đời để mưu cầu sự nghiệp, công danh cho bản thân, cho gia đình, dòng họ  (Trong đó có Cao Bá Quát)

Loading...

2. Sáu câu tiếp

– Lời của người đi đường: Một kẻ sĩ đi tìm chân lí giữa cuộc đời mờ mịt. Tâm thế: cô đơn, một mình trên con đường mờ mịt

– Hai câu 5,6:

“Không học được tiên ông phép ngủ

Trèo non, lội suối, giận khôn vơi”

  + Từ ngữ: Trèo non, lội suối =>Sự vất vả, khó nhọc

  +Tự trách mình, giận mình vì không có khả năng như người xưa, mà phải tự mình hành hạ thân xác mình để theo đuổi con đường công danh

 => Nỗi chán nản, mệt mỏi của tác giả

– Bốn câu tiếp:

+ Sự cám dỗ của công danh đối với người đời: Xưa nay….

+ Vì công danh – danh lợi( danh vọng đi với quyền lợi) mà con người phải tất tả xuôi ngược, khó nhọc mà vẫn đổ xô vào => trong khuôn khổ và hoàn cảnh của XHPK cũng không còn con đường nào khác.

+ Danh lợi cũng là một thứ rượu ngon dễ cám dỗ, dễ làm say người

=> Tâm trạng chán ghét danh lợi và phưòng danh lợi như kẻ say sưa trong quán rượu

+ Câu hỏi tu từ “Người say…” -> như trách móc như giận dữ, như lay tỉnh người khác nhưng cũng chính là tự hỏi bản thân

=> Ông đã nhận ra tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, con đường công danh đương thời là vô nghĩa, tầm thường. Tác giả làm rõ sự đối lập giữa mình với đông đảo phường chạy theo danh lợi. Cũng khẳng định rõ mình không thể hoà trộn với phường danh lợi. Cho dù mình cô độc. Ông là kẻ cô đơn không có người đồng hành. Sự thực ấy càng làm người đi đường cay đắng.

  =>Sáu câu thơ miêu tả thực tế cuộc đời với hình ảnh phường danh lợi đua chen say sưa trong bả vinh hoa. Qua đó cho ta thấy được tâm trạng chán ghét của nhân vật trữ tình trước phường danh lợi

3. Bảy câu cuối:

– Băn khoăn, phân vân tự hỏi. Người đi trên cát bỗng nhiên dừng lại, băn khoăn choán đầy tâm trí, day dứt và có phần bế tắc:

+ Câu cảm thán: “Bãi cát dài…”

+ Các câu hỏi tu từ => thế là thế nào? có nên đi tiếp hay chăng? tính sao đây? đi tiếp sẽ phải đi như thế nào?

– Hình ảnh con đường cùng. Đó là hình ảnh “đường ghê sợ”; “Phía bắc núi Bắc núi muôn trùng – Phía nam núi Nam sóng dào dạt”. Một hình ảnh tượng trưng cho con đường không lối thoát.  Hình ảnh thiên nhiên trở lại: Phía Bắc, phía Nam đều đẹp hùng vĩ nhưng cũng đầy khó khăn hiểm trở. Đi mà thấy phía trước là đường cùng, là núi là biển khó xác định phương hướng

=> Tư thế dừng lại nhìn bốn phía mà hỏi vọng lên trời cao, lại hỏi chính lòng mình thể hiện khối mâu thuẫn lớn đang đè nặng trong tâm trí nhà thơ

– Mâu thuẫn hết sức sâu sắc: Khát vọng sống cao đẹp với hiện thực đen tối. Nỗi bế tắc và tuyệt vọng phủ trùm lên cả người đi, cả bãi cát dài. Người đi chỉ còn có thể cất lên tiếng hát về con đường cùng của mình, về sự tuyệt vọng của mình. Người đi đường, kẻ sĩ ấy hiểu rằng phải học để đi thi. Nhưng thi đỗ đạt ra làm quan như bao phường danh lợi? thế thì học, thi để làm gì?

– Nhân cách: cao đẹp: ông phê phán những kẻ chạy theo con đường danh lợi đồng thời thức tỉnh mình mọi người hãy tỉnh táo trước cái bả công danh. Sự cảnh tỉnh chính mình trước cái mộng công danh.

– Xưng hô có sự phân thân:

+Khách: Sự quan sát mình từ phía ngoài: tư thế, hình ảnh..

+ Anh: Sự phân thân để đối thoại với chính mình.

+ Ta: Bộc lộ tâm trạng.

=>Mỗi đại từ giúp tác giả biểu hiện một khía cạnh trong tâm sự của mình: Sự quan sát và chất vấn chính mình khi thấy mình đi chung đường với “phường danh lợi”, với “người say” mà không biết, không thể thay đổi, qua đó thể hiện thái độ trăn trở.

III. TỔN KẾT

– ND: Bài thơ ghi lại tâm trạng của CBQ trên đường vào Huế thi hội. Qua đó người đọc hiểu được sự chán ghét cuả ông đối với con đường mưu cầu danh lợi  và tâm trạng bi phẫn của kẻ sĩ chưa tìm ra lối thoát trên đường đời.

– NT:

+ Cách xưng hô: “lữ khách, ta, anh”nhằm bộc lộ tâm trạng khác ( tâm trạng của chính mình, đối thoại với chính mình, mâu thuẫn đang hiện tồn trong tâm trí).

+ Xây dựng hình ảnh mang tính sáng tạo (bãi cát)

+ Âm điệu bi tráng nhưng cũng  có những phản kháng âm thầm.

Soạn Bài Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát Lớp 11 Của Cao Bá Quát / Văn
2 (40%) 1 vote
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

soan bai khai quat van hoc viet nam

Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Lớp 11 Tiếp Theo |Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Khái quát văn học Việt Nam …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *