Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 11 / Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Lớp 11 Của Nguyễn Công Trứ / Văn Mẫu

Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Lớp 11 Của Nguyễn Công Trứ / Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Bài ca ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ (Bài làm của học sinh Nguyễn Bảo Trân)

Đề bài: Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Lớp 11 Của Nguyễn Công Trức / Văn Mẫu

BÀI LÀM

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả Nguyễn Công Trứ

* Cuộc đời, con người

– Nguồn gốc: Sinh năm 1778 và mất 1859, xuất thân trong một gia đình Nho học ở làng Uy Viễn huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

– Năm 1819 ông thi đỗ giải Nguyên (đỗ đầu kì thi Hương và được nhà Nguyễn bổ làm quan ông là người có tài năng, tâm huyết trên nhiều lĩnh vực như văn hoá, kinh tế và quân sự (là một nhà thơ, một võ quan cao cấp, người có công khai khẩn đất lấn biển ở hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình và Tiền Hải – Thái Bình). Con đường làm quan cũng thăng giáng thất thường. Có thời gian được thăng tổng Đốc Hải An 1832. Có lúc lại bị giáng xuống làm lính biên thuỳ ở Quảng Ngãi.Trong suuốt 28 năm làm quan thì đến 5 lần bị giáng chức và cách chức.

– Quá trình trưởng thành: Từ nhỏ cho đến năm 1819 (41 tuổi). Ông sống nghèo khổ. Nhưng thời gian này ông tham gia sinh hoạt, hát ca trù vốn có nguồn gốc ở làng Cổ Đam gần quê ông.

–  Nguyễn Công Trứ là một nhân vật đặc biệt trong lịch sử:

      + Ông là một nhà Nho, một vị quan chân chính, thanh liêm, yêu nước, thương dân

      + Có công trong việc khai khẩn ruộng đất, chiêu mộ dân lưu vong để ổn định, củng cố trật tự phong kiến đương thời

      + Nổi tiếng trong triều đình và trận mạc: 80 tuổi vẫn tha thiết dâng sớ lên vua xin tòng quân đánh giặc

-Ông là người có tài năng, tâm huyết trên nhiều lĩnh vực như văn hoá, kinh tế và quân sự (là một nhà thơ, một võ quan cao cấp, người có công khai khẩn đất lấn biển ở hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình và Tiền Hải – Thái Bình) nhân dân ở đây đã lập đền thờ ngay khi Nguyễn Công Trứ còn sống. Về cuộc sống: Nguyễn Công Trứ có một người vợ chính họ Đặng và 12 bà vợ lẽ. Ông có 12 con trai và 14 con gái

* Sự nghiệp:

– Còn lại 50 bài thơ, 60 bài ca trù

– Một số bài phú Nôm, câu đối chữ Hán. Tương truyền Nguyễn Công Trứ làm đến trên dưới 1000 bài thơ Nôm nhưng phần lớn đã bị thất lạc. Hiện chỉ còn khoảng 100 bài. Thể loại ưa thích của Nguyễn Công Trứ là hát nói, 

– Nguyễn Công Trứ sáng tác chủ yếu bằng chữ Nôm và theo thể loại hát nói. Một điệu của ca trù. Nguyễn Công Trứ là người có công đem đến cho hát nói nội dung phù hợp.

 Nội dung các sáng tác của ông rất phức tạp: vừa ca tụng con người hành động lại vừa ca tụng lối sống hưởng lạc, cầu nhàn; vừa ca tụng Nho giáo, vừa ca tụng đạo giáo; vừa lạc quan, vừa bi quan; vừa khẳng định mình, vừa phủ định mình … Trong Nguyễn Công Trứ là một khối mâu thuẫn lớn.

– Tuy nhiên thơ văn Nguyễn Công Trứ tập trung vào ba đề tài lớn:

     + Chí nam nhi.

     + Cảnh nghèo và thế thái nhân tình.

     + Triết lí hưởng lạc.

2. Văn bản:

* Hoàn cảnh ra đời của bài thơ:

– Khi Nguyễn Công Trứ cáo quan về hưu năm 1848, sống ở quê nhà với cuộc sống phóng khoáng, tự do, nhàn tản

* Thể loại:

 – Thể ca trù (hát nói). Ca trù là một thể thơ luật tương đối tự do, phóng khoáng, kết hợp với song thất lục bát, lục bát với kiểu nói lối của hát chèo

* Bố cục: Bài thơ chia làm 3 đoạn

+ Đoạn một 6 câu đầu: Giới thiệu tài năng danh vị xã hội của Nguyễn Công Trứ

+ Đoạn hai 12 câu tiếp theo. Phong cách sống khác đời, ngao du giải trí khác người, phẩm chất và bản lĩnh trước những thăng trầm và thế thái nhân tình.

+ Đoạn ba 1 câu cuối: Khẳng định phong cách sống của mình.

Tác giả tự giới thiệu về tài năng và danh vị xã hội cùng với phong cách sống và bản lĩnh trước sự chìm nổi của mình. Đồng thời khẳng định phong cách ấy.

II. ĐỌC – HIỂU

1. Sáu câu đầu:

– Sáu câu đầu: “Vũ trụ nội mạc…. Phủ doãn thừa thiên “tác giả tự giới thiệu tài năng, danh vị xã hội của mình.

+ Mọi việc trong trời đất đều là phận sự của ta “vũ trụ… phận sự” => Lí tưởng của nhà Nho. Coi mọi việc trong vũ trụ là bổn phận của kẻ sĩ

– Đại từ nhân xưng: “Ông” cùng với cách xưng tên trực tiếp. Đây là một cách xưng tên đầy bản lĩnh. Trên có vũ trụ, dưới  là ông. à Như vậy, “Ông Hi Văn” đã ngang tầm với vũ trụ: đây là một cách nghĩ ngất ngưởng tạo nên cách sống ngất ngưởng sau này của ông

– Có tài nhưng đã bị “vào lồng”. “Vào lồng”: quan niệm về cách sống trong sự giàng buộc, sống phải có sự cống hiến. Nói cách khác đó là tâm trạng tù túng về tinh thần trong thời đại, nó là cảnh ngộ nhà thơ đang sống. Đây không phải là sự giam hãm về thể xác mà nó là một quan niệm sống rất đáng trân trọng, quan niệm sống của kẻ sĩ, của con người luôn có ý thức về bản thân, về trách nhiệm

– Nguyễn Công Trứ đã tự giới thiệu về tài năng và các danh vị xã hội của mình

+ Đỗ đầu kì thi hương 1819 “khi thủ khoa”

+ Năm 1833 làm tham tán quân vụ. Năm 1841 thăng “Tham tán đại thần”

+ Tổng đốc Đông năm 1835 được giữ chức Tổng đốc Hải An (Hải Dương và Quảng Yên).

+ Năm 1840 – 1841 chỉ huy quân sự ở Tây Nam Bộ

+ Năm 1848 chính thức làm Phủ Doãn tỉnh Thừa Thiên.

Tài năng: Ông tự nhận mình có “tài bộ” tức là tài hoa. Đặc biệt là “tài thao lược” tức có tài về quân sự (tam lược, lục thao  sách viết về cách dùng binh).

– Lời tự thuật khẳng định tài năng và lí tưởng trung quân, ý thức trách nhiệm của kẻ sĩ ở Nguyễn Công Trứ. Lời tự thuật ấy diễn tả bằng hệ thống từ Hán Việt uy nghiêm trang trọng kết hợp với âm điệu nhịp nhàng tạo bởi điệp từ, ngắt nhịp câu thơ: “Khi thủ khoa, khi tham tán, khi Tổng đốc Đông, lúc bình Tây, có khi về”. Tất cả đã diễn đạt một tài năng xuất chúng. Mở đầu là học vị thủ khoa vẻ vang. Tiếp đó là chức tước Tham tán, Tổng đốc Đông, phủ doãn Thừa Thiên và cả chiến tích “Bình Tây cờ Đại tướng. Không phải ai cũng ý thức được tài năng ấy. Phải là người có ý thức được mình, tài năng của mình vượt lên trên thiên hạ mới có cách nói ấy. Điều đó khẳng định tài năng và lí tưởng trung quân, ý thức trách nhiệm của kẻ sĩ ở Nguyễn Công Trứ.

– Cách tự nói về tài năng, danh vị của mình là xuất phát từ thái độ sống ngất ngưởng.

+ Ngất ngưởng không phải diễn tả một người thân hình cao vượt hẳn xung quanh với tư thế ngả nghiêng. Hai tiếng ngất ngưởng nhìn diễn tả một thái độ, một tinh thần một con người biết vượt mình lên trên thiên hạ. Sống giữa mọi người, đi giữa cuộc đời mà dường như chỉ biết có mình. Một con người khác đời và bất chấp mọi người. Đây là kiểu người thách thức, đối lập với xung quanh. => “Ngất ngưởng”: Thái độ, tinh thần của tác giả. Do vậy từ “ngất ngưởng” xuất hiện rất nhiều lần trong bài thơ.

Loading...

+ Ngất ngưởng không phải diễn tả một người thân hình cao vượt hẳn xung quanh với tư thế ngả nghiêng. Hai tiếng ngất ngưởng nhìn diễn tả một thái độ, một tinh thần một con người biết vượt mình lên trên thiên hạ. Sống giữa mọi người, đi giữa cuộc đời mà dường như chỉ biết có mình. Một con người khác đời và bất chấp mọi người. Đây là kiểu người thách thức, đối lập với xung quanh. Đó cũng chính là sự thách thức của cá tính nhà thơ đối với trật tự phong kiến đương thời.

=> Đây là phản ứng trên tư cách là một kẻ sĩ quân tử, một đấng trượng phu coi thường được mất, coi thường dư luận, thực hiện triết lí sống cho mình, cốt thoả chí mình.

2. Mười hai câu tiếp theo:

– Nhà thơ miêu tả một thái độ sống theo ý chí và sở thích cá nhân, một phẩm chất vượt lên trên thói tục đó là: Cuộc sống an nhàn, hưởng lạc

* Sự kiện ngất ngưởng ngày cáo quan

Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

– Một việc làm trái khoáy, ngược đời

– NCT dám trêu ngươi, khinh thị cả thế gian kinh kỳ

* Ngất ngưởng giữa chốn nhân gian

– Cách nghỉ cách chơi khác người

+ NCT sống phá cách : Là tướng- đi chùa – công khai dẫn cô đầu con hát lên chùa….Dám đề cao thú hát nói, dám phô phang sự gần gũi của mình vơi các ca nhi ả đào

+ NCT có dạng từ bi song lại sống tiên cách, không tu khổ hạnh mà sống phóng túng thảnh thơi

– NCT ngất ngưởng trước dư luận

+ Dám bỏ qua lễ nghi sống thuận theo lẽ tự nhiên

+ Thoát khỏi những ràng buộc thông thường như người thượng cổ ông coi thường sự được mất, bỏ ngoài tai mọi lời thị phi

+ NCT không là người cõi Phật , cõi Tiên mà vẫn là con người của cuộc đời song ông không vướng tục

+ Ông sống thoát tục, xa lánh trần thế: vui với cốc rượu ngon, những âm thanh trầm bổng.

+ Ông tự so sánh mình với người thái thượng. Được hay mất, phú quý hay bần hàn, được khẳng định hay bị phủ định trong cuộc sống và trong quan hệ xã hội, ông vẫn tỏ ra bình thản, chẳng đoái hoài gì: “Được mất…. đông phong”. Tiểu sử đã chứng minh rõ thái độ ấy của ông. Khi làm Đại tướng cũng như khi bị cách tuột làm lính thú, ông vẫn “dương dương như người thái thượng”. Bởi ông có tài năng và phẩm chất thực sự. Ông đã giải thoát khỏi những ràng buộc thông thường, những thế lực tinh thần vẫn ngự trị xưa nay. Về hưu trí, người ta cưỡi ngựa, ông cưỡi bò vàng. Về hưu, ông thường lên chùa mang theo những cô hầu gái. Phan Bội Châu có thơ Vịnh việc này: “Hà Như Uy viễn tướng quân thú/Tuý ủng hồng nhi thượng pháp môn” (Sao có được cái thú của Uy viễn tướng quân/Rượusay đưa các cô gái trẻ lên chùa)

– Khẳng định: Tài năng, phẩm chất, NCT ngất ngưởng tự hào là một trung thần. Dám tự sánh mình với các danh sĩ nổi tiếng của phương Bắc. Ông tự ví mình với những con người nổi tiếng, có sự nghiệp hiển hách của Trung Quốc, đồng thời cũng khẳng định về phận sự của một bầy tôi, một nhà Nho với quốc gia, dân tộc.

-> Tác giả khẳng định thái độ sống ngất ngưởng của mình sau khi đã khẳng định tư tưởng, vượt lên thói tục và so sánh với những bậc danh sĩ tài giỏi trong sử sách Trung Hoa. Ông cũng là người ăn ở có trước sau: “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”.

=> Mười hai câu đọc lên ta thấy bài thơ xây dựng một hình tượng có ý vị trào phúng. Nhưng đăng sau nụ cười là một thái độ, một quan niệm nhân sinh mang màu sắc hiện đại, vì nó khẳng định đề cao một cá tính. ý thức của cái tôi đã trỗi dậy trong khi nền văn học đang thủ tiêu nó bằng quan niệm hàng nghìn năm: Chủ nghĩa phi ngã.

soan bai bai ca ngat nguong
Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Lớp 11 Của Nguyễn Công Trứ / Văn Mẫu

3. Câu thơ cuối: 

– Khẳng định: tài năng cũng như cách sống bằng chính giá trị của mình lúc đó trong triều không ai có được. Câu thơ kết một lần nữa khẳng định thái độ sống của một nhân cách cứng cỏi, một tài năng, một phẩm giá của một danh sĩ nửa đầu thế kỉ XIX.

– Dù sao Nguyễn Công Trứ cũng là một môn đồ của đạo Khổng. Tư tưởng “trí quan trạch dân” đã thôi thúc ông đi học, đi thi, đỗ đạt ra làm quan lo đời, giúp nước. Lí tưởng “Tề gia trị quốc bình thiên hạ” luôn luôn vẫy gọi những người như Nguyễn Công Trứ. Ông từng nêu chí khí của kẻ làm trai:

 “Đã làm trai sống trong trời đất

 Phải có danh gì với núi sông”

Danh vọng với Nguyễn Công Trứ phải gắn liền với tài năng thực sự, danh vọng phải gắn liền với phẩm chất. ở Nguyễn Công Trứ, ta thấy có ba điểm đáng quý: Tài thao lược. Bản chất cứng cỏi. Biết lo cho dân về mặt kinh tế, đời sống ổn định. (Tuy nhiên vì lòng trung thành triệt để của một bề tôi mà ông đã tham gia đàn áp cuộc khởi nghĩa nông dân miền núi). Nhìn chung vì lí tưởng, tài năng của trang nam nhi, ông vẫn ra làm quan.

III. Tổng kết: 

– Nội dung:

+ Bài ca ngất ngưởng thể hiện rõ phong cách sống của một con người tài năng, suốt đời vì dân, vì nước. Song đó cũng là con người tự tin vào bản thân mình, có bản lĩnh và phẩm cách hơn người, có cá tínhđộc đáo.

– Nghệ thuật:

+ Nhan đề: Độc đáo, cách bộc lộ bản ngã của Hi Văn cũng độc đáo.

+ Cách ngắt nhịp: Tạo tính nhạc, thể hiện phong thái nhà thơ.

+ Sử dụng nhiều từ Hán Nôm, bộc lộ chất tài hoa trí tuệ của tác giả.

Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Lớp 11 Của Nguyễn Công Trứ / Văn Mẫu
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

soan bai khai quat van hoc viet nam

Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Lớp 11 Tiếp Theo |Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Khái quát văn học Việt Nam …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *