Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 10 / Soạn Bài Ca Dao Than Thân Yêu Thương Tình Nghĩa Lớp 10 Tiếp Theo

Soạn Bài Ca Dao Than Thân Yêu Thương Tình Nghĩa Lớp 10 Tiếp Theo

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa (tiếp theo) (Bài làm của học sinh Nguyễn Đình Tùng)

Đề bài: Soạn Bài Ca Dao Than Thân Yêu Thương Tình Nghĩa Lớp 10 Tiếp Theo

BÀI LÀM

Câu 3: Bài 4

a. Ẩn dụ và hoán dụ: “Khăn thương nhớ ai… ” (Chiếc khăn là ẩn dụ gửi gắm nỗi lòng thương nhớ); “Đèn thương nhớ ai…  (Chiếc đèn là ẩn dụ nói lên nỗi nhớ khôn nguôi); “Mắt thương nhớ ai… . ” (đôi mắt là hoán dụ nói lên nỗi lòng thao thức vì thương nhớ).

b. Phép lặp (lặp từ ngữ và mô hình cú pháp)

   Các từ thương, nhớ…được lặp lại nhiều lần, có tác dụng nhấn mạnh, tăng thêm nỗi nhớ thương. Các từ khăn, đèn, mắt cũng được lặp lại nhiều lần để tô đậm các hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ, gây dấu ấn trong lòng người đọc.

   Mô hình câu:

   “Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai

   Khăn vắt lên vai…”

   Cũng được lặp lại nhiều lần để tô đậm cảm xúc, cảm giác liên quan đến niềm thương nhớ.

c. Các câu hỏi tu từ được sử dụng liên tục: “Khăn thương nhớ ai – Khăn rơi xuống đất?… Đèn thương nhớ ai – Mà đèn chẳng tắt? Mắt thương nhớ ai – Mà mắt không yên?…

   Tác dụng của những câu hỏi tu từ liên tục làm cho tình cảm láy đi láy lại, hợp với tâm trạng bồn chồn, không yên vì thương nhớ.

d. Những câu thơ ngắn gọn gồm 4 tiếng (hình thức văn bản) có tác dụng như một sự thôi thúc, diễn tả tâm trạng bồn chồn. Sự phối hợp với câu lục bát ở cuối càng làm nổi bật sắc thái sốt ruột trong những câu thơ bốn chữ.

Câu 4:

– Ước mong của cô gái trong tình yêu thật độc đáo và táo bạo.

 Từ một típ cái cầu có thực – nơi gặp gỡ, tỏ tình, tâm tình, nơi chia tay của lứa đôi Đó là dòng sông và cây cầu tình yêu và mơ ước mà người con gái đã chủ động bắc đợi người yêu vượt lên mọi ràng buộc của lễ giáo phong kiến cổ hủ, hà khắc. Còn hơn cả cành hồng, cành trầm hay ngọn mồng tơi. Vì tất cả những hình ảnh đó đều là vật bên ngoài. Còn ở đây nó chính là một vật rất gần gũi của cô gái. Chiếc cầu dải yếm nói lên một cách táo bạo, bất ngờ và mãnh liệt tình yêu của em dành cho anh.

 Mô típ cái cầu và đi liền với nó là mô típ dải yếm có lẽ là kết tinh đẹp đẽ nhất, táo bạo nhất trong những mô tip của ca dao trữ tình giao duyên cổ truyền Việt Nam.

Mô típ Hình ảnh độc đáo Tác dụng nghệ thuật  
-Ước gì.

– Chiếc cầu

– Dòng sông rộng 1 gang

– Cầu dải yếm

– Dòng sông và cây cầu hoàn toàn tưởng tượng để nói lên ước muốn gặp gỡ, yêu đương táo bạo và cháy bỏng của cô gái.

Câu 5: 

Muối và gừng vốn là hai gia vị quen thuộc trong bữa ăn của con người Việt Nam:

               “Tay… đĩa gừng

             Gừng cay…quên nhau”.

   Ở trong bài ca dao này, hình ảnh gừng và muối  được sử dụng với nghĩa ẩn dụ.  Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son.

   Một số câu ca dao có sử dụng hình ảnh này:

Tay bưng chén muối đĩa gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.

– Muối càng mặn, gừng càng cay

Đôi ta tình nghĩa nặng dày em ơi.

– Tay bưng đĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn, ta biểu đừng tưởng tơ
Gió ngọt ngào nhiều ngọn xơ rơ
Con chim vào lồng thậm khó, con cá vào lờ thậm gay. 

Câu 6:

– Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao:

– Sử dụng mô típ mở đầu “ Thân em”, “Ước gì”

– Các hình ảnh thành biểu tượng trong ca dao : Chiếc cầu, tấm khăn, ngọn đèn, gừng cay – muối mặn.

– Hình ảnh so sánh, ẩn dụ : Tấm lụa đào, củ ấu gai, mặt trời, trăng, sao”.

– Thể lục bát, thể bốn chữ, lục bát biến thể.

– Những biện pháp nghệ thuật trong ca dao có nét riêng: Lấy những sự vật gần gũi cụ thể với đời sống của người lao động để so sánh, để gọi tên, để trò chuyện như: nhện, sao, mận, đào, vườn hồng, cái đó, con sông, chiếc cầu, chiếc khăn, cái đèn, đôi mắt…Trong khi đó thơ bác học trong văn học viết sử dụng trang trọng hơn, có những nét khó hiểu hơn, uyên thâm hơn. Một bên đậm chất dân gian. Một bên mang tính chất bác học.

LUYỆN TẬP

Loading...

Bài tập 1:

Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tựa vào đâu

   Người phụ nữ được so sánh với trái bần – một loại trái vừa chua vừa chát, thường trôi nổi lênh đên trên sông nước. Qua đây, bài ca dao nói lên thân phận trôi nổi, bấp bênh của người phụ nữ trong xã hội cũ và nói lên số phận chua chát, đắng cay của họ.

Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài cát hạt ra đồng ngoài

   Trong bài ca dao này, người phụ nữ được so sánh với hạt mưa sa. Hạt mưa, nếu rơi vào đài cát thì sẽ được sung sướng còn ra đồng ngoài thì có số phận bất hạnh. Bài ca dao này, nói lên thân phận của người phụ nữ, phụ thuộc vào sự may mắn.

Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân

   Người phụ nữ trong bài ca dao này được ví như giếng giữa đàng, nếu họ may mắn thì gặp được người khôn, khi đó họ sẽ được đối xử tử tế, ngược lại, gặp người phàm tức là những kẻ phàm phu, tục tử thì sẽ bị đối xử không ra gì.

Thân em như chẽn lúa đòng đòng
phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai

   Mặc dù cũng bắt đầu  bằng mô típ thân em như, nhưng bài ca dao này không phải là một bài ca dao than thân. Mà miêu tả vẻ đẹp của người con gái lứa tuổi 17, 18 có những nét đẹp của chẽn lúa đòng đòng đầy sức sống, tươi đẹp.

Thân em như trái bưởi bòng
Đắng the ngoài vỏ trong lòng ngọt thanh

   Người phụ nữ được so sánh với trái bưởi bòng. Đặc trưng của loại quả này ở bên ngoài chát, đắng nhưng bên trong lại ngọt thanh. Bài ca dao ngầm ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

Bài tập 2:

Những bài ca dao nói về nỗi nhớ người yêu:

– Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than. 
 Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?
 Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?
 Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai
Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.

– Rủ nhau xuống biển mò cua

         Đem về nấu quả mơ chua trên rừng

Em ơi, chua ngọt đã từng

Non xanh nước bạc xin đừng quên nhau

Bài ca dao về cái khăn:

– Gửi khăn, gửi áo, gửi lời
Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa. 
Nhớ khi khăn mở trầu trao
Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình.

– Em về anh mượn khăn tay

    Gói câu tình nghĩa, lâu ngày sợ quên

Bài ca dao Khăn thương nhớ ai vừa nằm trong hệ thống các bài ca dao nói trên, lại vừa có một vị trí riêng: nó cụ thể, sinh động hơn và cũng tổng hợp, trọn vẹn hơn. Có thể xem đây là bài ca dao hoàn chỉnh và hay nhất về nỗi nhớ của cô gái Việt ngày xưa. Nỗi nhớ của cô gái đã thành một nét đẹp trong tâm hồn của dân tộc: “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (Nguyễn Khoa Điềm). Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm vừa lấy ý tứ từ sự thương nhớ của ca dao vừa lại khái quát lên một cấp độ cao hơn – câu thơ chính là một nét đẹp giản dị mà tinh tế sâu sắc của tâm hồn người Việt. Câu thơ này có ý nghĩa là đất nước là nơi một phần trái tim của cô gái đã để lại, là nơi cô gái luôn nhớ thương.

>> XEM THÊM: Soạn bài Ca dao hài hước

>> XEM THÊM: Soạn Bài Ca Dao Than Thân Yêu Thương Tình Nghĩa

Soạn Bài Ca Dao Than Thân Yêu Thương Tình Nghĩa Lớp 10 Tiếp Theo
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

soan bai noi dung va hinh thuc cua van ban van hoc

Soạn Bài Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học Lớp 10 | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Nội dung và hình thức của …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *