Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 10 / Hướng Dẫn Soạn Bài Nỗi Oán Của Người Phòng Khuê Lớp 10

Hướng Dẫn Soạn Bài Nỗi Oán Của Người Phòng Khuê Lớp 10

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Nỗi oán của người phòng khuê Ngữ Văn 10 (Bài làm của học sinh Phương Lan)

Đề bài: Hướng dẫn Soạn bài Nỗi oán của người phòng khuê Lớp 10.

BÀI LÀM

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

a. Cuộc đời

– Vương Xương Linh (698 – 756), tự Thiếu Bá, quê Tràng An

– Năm 727 đôc tiến sĩ lần lượt làm một số chức quan nhỏ, nhiều lần bị cách chức.

b. Sự nghiệp

– Để lại 180 bài thơ và một số tạp văn

– Nội dung: phong phú, đề cập đến cuộc sống của tướng sĩ nơi biên cương, nỗi oán hờn của người cung nữ, nỗi li sầu biệt của người thiếu phụ, khúc ca tình bạn chân thành

– Phong cách: trong trẻo, tinh tế.

2. Tác phẩm

– Nhan đề: Nỗi oán hờn, trách hận của người phụ nữ có chồng đi chiến trận.

– Bài thơ thuộc thể thất ngôn tứ tuyệt.

– Đề tài bài thơ là khuê oán.

-Qua bài thơ thể hiện tinh thần phản đối chiến tranh phi nghĩa.

 

II. Phân tích

1. Nghệ thuật cấu tứ trong bài thơ trong quá trình chuyển biến tâm trạng của người khuê phụ.

– Nghệ thuật câu tứ của bài thơ rất độc đáo, chỉ trong 28 chữ nhưng đã thể hiện được cả quá trình diễn biến tâm trạng của người khuê phụ. 

– Trong câu thứ nhất tác giả nêu phản đề “Thiếu phụ phòng khuê chẳng biết sầu”.  Chồng ra trận mà người thiếu phụ lại “không buồn” vì thời Thịnh Đường, Trung Quốc là một nước giàu mạnh và có lãnh thổ rộng lớn nhà Đường đã phái quân đội ra trấn thủ biên cương và nếu thuận lợi thì “mở mang bờ cõi”. Nhiều người ra biên cương với hi vọng lập công để được phong hầu. Hoàn cảnh ấy làm dấy lên tinh thần “kiến công lập nghiệp”ở đấng nam nhi. “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa”… người chồng này cũng vậy. Thời phong kiến ở Trung Quốc, theo lí tưởng trung quân thì thân nhân của họ đều ủng hộ việc lập chiến công, vì yên tâm với định lí đó mà ban đầu người thiếu phụ vẫn yên lòng để chồng đi chiến trận lập công. Mình sẽ ở nhà yên bề nội ứng. Hàn Dũ nói “ Thiếp không ra khỏi cửa, chàng muôn dặm viễn hành”.

– Trong lúc chồng đi chiến trận thì hằng ngày, người khuê phụ vẫn làm công việc muôn thuở của phụ nữ khuê các là trang điểm và lên lầu đẹp (để dạo bước, để ngắm hoa, nhìn cảnh, nhìn trời…).

2.Nàng thấy màu dương liễu thì đã hối hận đã cho chồng đi kiếm tước hầu vì nàng đã đánh mất đi tuổi xuân của mình, tuổi xuân sẽ mãi mãi ra đi không còn xuất hiện trong người phụ nữ đó nữa.

– Người thiếu phụ “chẳng biết sầu” gặp sắc liễu xanh bên đường chợt giật mình hoảng hốt. Ở đây thi nhân đã rất tinh tế khi dùng từ “chợt” để đánh dấu sự chuyển biến đột ngột, vượt cấp trong nhận thức của người thiếu phụ vì khi dùng từ “chợt” = “hốt” là để diễn tả sự việc xảy ra thình lình, nó đột ngột trong cảm xúc mà ta không lường trước được. Sắc liễu khiến cho người thiếu phụ nhận ra mùa xuân của tự nhiên đã đến, nhưng mùa xuân của mình đã dần trôi đi.

– Trong thơ Đường hình ảnh “ liễu” không chỉ là tín hiệu nghệ thuật để nhận biết thời gian của tự nhiên của đất trời. “ Liễu” còn chỉ thời gian của cuộc đời. “ Dương liễu sắc” đồng thời cũng là biểu tượng của li biệt. (Tại sao lại là màu của sự li biệt? là như thế này, vì trong tiếng Trung Quốc, chữ liễu và chữ lưu có âm đọc gần giống nhau. Người Trung Quốc xưa có một phong tục: Lúc chia tay, người ở lại bẻ một cành dương liễu tặng cho người ra đi để biểu thị niềm lưu luyến. Bởi vậy trong thơ cổ Trung Quốc, đặc biệt là trong thơ Đường, màu dương liễu, cành dương liễu hay động tác bẻ liễu là một hình ảnh ước lệ, tượng trưng cho sự li biệt

– Người thiếu phụ thấy màu dương liễu liền gợi nhớ lại kỉ niệm với chồng trước kia. Nàng như bừng tỉnh, sao ta lại dễ dàng để cho chồng ra trận, vào chỗ chết để tìm công danh, ấn phong hầu làm chi khi vợ chồng tuổi còn xuân mãi phải phân li? “Bởi xưa nay chinh chiến mấy ai về “ ( Lương châu từ-Vương Hàn). Khát khao về danh vọng sao sánh được với hạnh phúc lứa đôi.

– “Sắc liễu” đã trở thành một phương tiện nghệ thuật chuyển tải tinh tế cảm xúc của con người.

Loading...

– Trước khi “chợt thấy màu dương liễu” là sự vô tư, thanh thản. Mắt chạm phải màu li biệt nên tâm trạng lập tức thay đổi, đó là nỗi hối hận:

“ Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc

Hối giao phu tế mịch phong hầu”

Mắt chạm phải màu li biệt nên tâm trạng lập tức thay đổi “ Hối để chàng đi kiếm tước hầu”. Từ cái bản lề “ hốt” nàng chuyển sang “ hối”. Nàng nhận ra được chiến tranh là tai họa, nàng “hối hận” nàng tự trách mình, nàng oán trách số phận. Nàng hối hận khi để chồng đi kiếm tước hầu ở nơi chiến trận. Hối hận vì phải trả giá quá đắt cho giấc mộng công hầu. Thi nhân đã dùng từ “hối”  để thể hiện rõ tâm trạng người thiếu phụ không những u sầu mà còn tiếc nuối trong sự đau khổ day dứt khi nhận ra điều lầm lỗi của mình. Nó còn đáng sợ gấp mấy lần cái từ “sầu”.

– Thời phong kiến, bề tôi lập được công lớn (thường là chiến công) thì được vua phong tước hầu. Ở đây, người chồng đi tìm kiếm tước hầu có nghĩa là đi ra trận lập công để được phong tước hầu. “Khuê oán” được sáng tác vào thời tịnh Đường, các cuộc chiến tranh phần lớn là để mở mang bờ cõi, nên mục tiêu của người chồng ở đây không phải là lí tưởng chính đáng. Nên sau sự “hối” của người khuê phụ là sự “oán”- oán cái ấn phong hầu, oán ghét chiến tranh phi nghĩa của con người thời nhà Đường. Chiến tranh là nguyên nhân của sinh li tử biệt, làm cho gia đình chia lìa, chồng xa vợ, cha mất con và hạnh phúc của con người trở thành một bóng dáng xa xôi.

3. Bài Khuê oán lại được coi là bài thơ tiêu biểu cho tinh thần phản đối chiến tranh phi nghĩa của con người ở thời Đường là vì:

Hình ảnh người thiếu phụ đang mong chờ và hối hận khi đã cho chồng của mình đi kiếm tước hầu, học làm cho cảm giác ai oán của nhân vật người phụ nữ dâng lên, nó làm cho tâm hồn của tác giả trống vắng.

Bài này phản đối chiến tranh vì chính chiến tranh đã cướp đi hạnh phúc lứa đôi của con người, giờ đây chỉ còn lại là người phụ nữ khuất bóng mình trong căn phòng khuê các.

Phản đối chiến tranh là một đề tài mở rộng ở trong thơ đường chiến tranh tàn ác vừa cướp đi hạnh phúc lứa đôi và cướp đi những hạnh phúc vốn dĩ có ở con người, con người ngày càng bị tuyệt vọng và trôi vào những cảm giác đau đớn khi con người ngày càng xa rời với hạnh phúc.

Chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi những cái chính nghĩa một cuộc chiến tranh nổ ra không giải quyết được một lợi ích nào mà chỉ để lại những mất mát đau thương, mà tác giả đang phê phán.

Trong bài tác giả đã thể hiện chi tiết hình ảnh người thiếu phụ trong phòng khuê các, hình ảnh cô đơn đó thể hiện tâm trạng buồn rầu chờ đợi trong vô vọng của người con gái.

Đánh mất tuổi xuân của mình cho hạnh phúc nhưng cuối cùng phải oán than vì những hành động đã sai của mình.

Ở đây mực đích chính của bài là nói về nỗi oán thương của người phụ nữ khuê các cả đời phải chịu đau đớn và những đau đớn đó làm xót xa thể xác và tinh thần của người phụ nữ.

Bài thơ đã phán ánh sâu sắc được tình cảm của người phụ nữ đối với chồng của mình, trong xã hội cũ người con gái chịu nhiều đau thương và mất mát có khi để đánh mất tuổi trẻ trong tay.

Bài thơ vừa có tác dụng phê phán chiến tranh phi nghĩa và có ý nghĩa nêu cao được những người phụ nữ có đức hy sinh cao cả để lại những điều đáng quý cho người chồng của mình.

>> XEM THÊM: Soạn Bài Truyện Kiều

Hướng Dẫn Soạn Bài Nỗi Oán Của Người Phòng Khuê Lớp 10
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

soan bai noi dung va hinh thuc cua van ban van hoc

Soạn Bài Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học Lớp 10 | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Nội dung và hình thức của …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *