Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 11 / Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Trung Đại Việt Nam Lớp 11 | Văn Mẫu

Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Trung Đại Việt Nam Lớp 11 | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Ôn tập văn học trung đại Việt Nam (Bài làm của học sinh Nguyễn Xuân Kết)

Đề bàiSoạn Bài Ôn Tập Văn Học Trung Đại Việt Nam Lớp 11

BÀI LÀM

I. NỘI DUNG:

1. Câu 1:

* Những biểu hiện của nội dung yêu nước trong VH từ thế kỷ 18 đến hết thế kỷ 19:

– Chủ nghĩa yêu nước là một đặc điểm lớn của văn học Trung đại. Nó vô cùng phong phú, đa dạng. Là âm hưởng hào hùng khi chiến đấu và chiến thắng ngoại xâm, là âm hưởng bi tráng khi nước mất nhà tan, là giọng điệu thiết tha khi đất nước thái bình thịnh trị.

– Từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX có hai sự kiện cần chú ý đã tác động tới cảm hứng yêu nước trong văn chương.

– Một là chế độ phong kiến từ khủng hoảng đến suy thoái. Hàng trăm cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra. Đáng lưu ý là cuộc khởi nghĩa của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã lật đổ các tập đoàn phong kiến đàng Trong, đàng Ngoài, đánh tan các cuộc xâm lược của quân xiêm ở phía Nam, quân Thanh ở phía Bắc. Phong trào Tây Sơn suy yếu. Nguyễn ánh khôi phục chế độ phong kiến chuyên chế. Đất nước đứng trước hiểm hoạ xâm lược của thực dân Pháp.

– Hai là thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858). Nhân dân Nam Bộ, lần lượt cả nước kiên cường bất khuất đứng lên chống giặc ngoại xâm. Nhưng các cuộc khởi nghĩa đều thất bại. Năm 1884, thực dân Pháp hoàn toàn chiếm lĩnh nước ta, xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến. Văn hoá phương Tây bắt đầu có ảnh hưởng tới đời sống văn hoá Việt Nam.

soan bai on tap van hoc trung dai
Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Trung Đại Việt Nam Lớp 11 | Văn Mẫu

* Cảm hứng yêu nước trong văn học Trung đại từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX biểu hiện:

   – Biết ơn và ca ngợi những người hi sinh vì đất nước

   – Yêu nước gắn liền với căm thù giặc (văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

   – Tình yêu thiên nhiên đất nước (Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh)

   – Ý Thức được trách nhiệm của cá nhân mình với đất nước ngay cả những lúc hoàn cảnh thật ngặt nghèo (thơ ca Cao Bá Quát) ngoài ra còn phải kể đến thơ của Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Nguyễn Quang Bích tư tưởng canh tân được thể hiện một cách bức xúc qua các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ. So với giai đoạn trước, nội dung yêu nước trong văn học giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX có nhiều điểm khác.

– Ca ngợi người dân đánh giặc với những phẩm chất tương xứng với họ ở ngoài đời.

– Ý thức được trách nhiệm của cá nhân với vận mệnh đất nước trong cảm hứng u hoài, bi tráng.

– Lòng căm thù bọn thực dân Pháp xâm lược và bè lũ tay sai bán nước (VTNSCG, Chạy giặc).

– Ca ngợi, biết ơn những người đã hi sinh vì đất nước (VTNSCG).

– Đề cao vai trò của người trí thức đối với sự phát triển của đất nước (Chiếu cầu hiền).

* Những điểm mới của ND yêu nước so với giai đoạn trước:

– Đề cao vai trò của người trí thức

– Đề cao vai trò pháp luật của nhà nước pháp quyền.

* Phân tích một số tác phẩm để làm rõ cảm hứng yêu nước.

Bài hát ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

     + Cảm nhận xót xa, u buồn trước tình cảnh đất nước

    + Cảm nhận được tâm trạng bi phẫn của kẻ sĩ chưa tìm được lối ra trong cuộc đời để thi thố lo đời giúp nước.

– Hương Sơn phong cảnh ca

    + Cảm nhận được cái đẹp thiên nhiên đất nước

    + Cảm nhận hài hoà giữa tôn giáo (đạo Phật) linh thiêng với vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước.

– Xin lập Khoa luật

    + Lòng yêu nước thể hiện ở tầm nhìn của tác giả. Đó là tư tưởng một lòng canh tân cho đất nước. Đất nước phải có pháp luật, mọi người phải sống theo pháp luật.

– Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    + Lòng yêu nước giúp tác giả đề cập tới hoàn cảnh đau thương tủi nhục nhất của đất nước và câu trả lời cũng mạnh mẽ nhất.

    + Tác giả đã tạo nên bức chân dung sừng sững của người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang.

    + Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc còn là tiếng khóc cao cả

   – Khóc cho đất nước, quê hương

   – Khóc cho người chết

   – Khóc cho người sống “Đau đớn mấy… trước ngõ”

=> Khóc làm cho trời sầu đất thẩm “Đoái sông… luỵ nhỏ”

2. Câu 2: 

* Xuất hiện trào lưu nhân đạo vì:

– Tình hình đất nước từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX có nhiều biến động lớn về lịch sử.

    + Chế độ phong kiến từ khủng hoảng đến suy thoái

    + Nguyễn Huệ dẹp yên thù trong giặc ngoài đàng Ngoài, đàng Trong, quân Thanh, quân Xiêm.

    + Đời sống nhân dân điêu đứng lầm than vì chiến tranh loạn lạc, phu phen, tạp dịch. Cho nên những sáng tác văn học thời kì này đòi quyền sống cho con người. Vì thế chủ nghĩa nhân đạo xuất hiện trong văn chương.

 – Mặt khác ảnh hưởng của văn học truyền thống, những mặt tích cực của đạo Nho, Phật giáo và truyền thống nhân đạo của người Việt Nam qua lối sống “Thương người như thế thương thân”.

    + Văn học dân gian là cội nguồn nảy sinh tư tưởng nhân đạo

    + Tư tưởng nhân văn của Phật giáo là từ bi bác ái

    + Tư tưởng nhân văn của Nho giáo là học thuyết nhân nghĩa

    + Tư tưởng nhân văn của Đạo giáo sống thuận và hoà hợp với tự nhiên.

Vì lẽ đó, ta nói từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa đã xuất hiện trong văn học Trung đại.

* Những biểu hiện:

– Thương cảm trước bi kịch và đồng cảm với khát vọng của con người (Truyện Kiều; thơ HXH…)

– Khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm con người (Đọc Tiểu Thanh ký; Thương vợ…)

– Lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp quyền sống con người (Truyện Kiều; Thơ HXH…)

– Đề cao truyền thống, đạo lý nhân nghĩa của dân tộc (Khóc Dương Khuê; Thơ HXH…)

=> Từ thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX. Nội dung của chủ nghĩa nhân đạo thể hiện ở lòng thương người, khẳng định và đề cao con người ở phẩm chất và tài năng, những khát vọng chân chính về quyền sống, quyền hạnh phúc và quyền tự do lên án các thế lực tàn bạo những nguyên tắc đạo lí, những thái độ ứng xử tốt đẹp giữa người với người. Đó là các tác phẩm:

    + Chính phụ ngâm – Đặng Trần Côn, dịch giả là Đoàn Thị Điểm

    + Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều

    + Truyện Kiều, thơ chữ Hán, Văn tế thập loại chúng sinh – Nguyễn Du

    + Thơ Hồ Xuân Hương

    + Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu

Loading...

* Vấn đề cơ bản nhất của ND nhân đạo trong VH thời kỳ này:

– Khẳng định quyền sống con người là vấn đề cơ bản.

   – Chứng minh qua các tác phẩm

    + Truyện Kiều của Nguyễn Du là tiếng nói đồng cảm với khát vọng hạnh phúc, công lí của con người. Truyện còn là tiếng khóc của nhiều cung bậc. Khóc cho số phận con người bị chà đạp, bị hoen ố dày vò, khóc cho tình yêu bị tan vỡ, khóc cho tình cốt nhục bị lìa xa.

    + Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và dịch giả là Đoàn Thị Điểm là tiếng lòng của người chinh phụ phải sống cô lẻ trong những ngày chồng nàng ra trận, trong cuộc chiến tranh phong kiến. Đó là nỗi buồn đau, sầu tủi, thương, lo cho chồng bao nhiêu, càng thương mình bấy nhiêu. Nỗi buồn vì hạnh phúc tuổi xuân trôi mau mà chồng nàng chưa về, không biết số phận ra sao. Nỗi khao khát hạnh phúc được cất lên từ tâm trạng người chinh phụ bằng những lời ai oán.

    + Thơ Hồ Xuân Hương: Bà không chỉ đòi quyền sống cho mình mà cho cả giới mình. Những giãi bày, lo toàn về tuổi xuân trôi nhanh mà duyên phận bẽ bàng lỡ dở. Thái độ bức phá, vùng vầy đâu chịu “giã tom” duyên phận “mõm mòm”. Nó muốn “đâm toạc” “xiên ngang”. Có lúc, Hồ Xuân Hương đề cao cả chuyện “Không có nhưng mà có mới ngoan”. Cái quý nhất của con người mà ông trời đã ban phát cho được bà nói tới nhiều lần. Nói nhiều không phải là khoe. Nhưng khoe được như bà thật là hiếm có.

    + Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu: Bỏ qua triết lí nhân nghĩa truyền thống mà truyện đặt ra “Trai thời trung hiếu làm đầu/Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”, ta thấy nổi lên trong truyện đối nhân xử thế, là khát vọng tình yêu chung thuỷ, là tình bè bạn, nghĩa thầy trò. Người tốt dù phải trải qua bao gian lao vất vả cuối cùng vẫn được hưởng hạnh phúc, dù phải xa cách vẫn có ngày đoàn tụ. Vấn đề lớn nhất là quyền sống con người vẫn được đảm bảo vẹn toàn. Lẽ ghét thương ở đời vẫn rạch ròi dứt khoát.

    + Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ : Bài ca có ý khẳng định con người cá nhân. Cái lối sống “ngất ngưởng” biết đặt mình vượt lên thiên hạ không phải ai cũng làm được

    + Thương vợ của Trần Tế Xương: Ông Tú đề cao, khẳng định bà Tú về một lĩnh vực: Đức tính, đấy là sự chịu thương, chịu khó tần tảo làm buôn làm bán “lặn lội thân cò khi quãng vắng/eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

    + Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến: Tư tưởng nhân văn của bài thơ là đề cao tình người – tình bạn nghe tin bạn mất, Nguyễn Khuyến ngậm ngùi, buông tiếng thở dài, não ruột.

3. Giá trị phản ánh và phê phán hiện thực của đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh”: 

* Giá trị phản ánh:

Bức tranh chân thực về cuộc sống nơi phủ chúa được khắc hoạ ở 2 phương diện

 –  Cuộc sống thâm nghiêm, giàu sang, xa hoa

 –  Cuộc sống thiếu sinh khí

* Giá trị phê phán:

 – Phủ chúa: nơi thâm nghiêm, đầy uy quyền với những tiếng quát tháo, người truyền lệnh, những tiếng dạ ran, những con người vai vế và những con người khúm núm, sợ sệt.

 – Phủ chúa là thế giới riêng. Người ra vào qua nhiều cửa có lính canh. Mọi việc đều có quan truyền lệnh, chỉ đẫn. Thầy thuốc vào phải chờ lệnh, phải khúm núm, lạy tạ.

 – Phủ chúa là nơi cực kỳ giàu sang, xa hoa. Giàu sang từ nơi ở đến tiện nghi sinh hoạt, đồ ăn, thức uống.

 – Cuộc sống nơi phủ chúa âm u, thiếu sinh khí.

Sự thâm nghiêm càng làm tăng ám khí. ám khí bao trùm không gian, ngấm vào thể tạng con người. Trịnh Cán sóng trong nhung lụa, trong sự xa hoa nhưng lại thiếu khí trời, thiếu sự sống và sức sống.

4. Giá trị nội dung và NT thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: 

* Giá trị nội dung:

– Giá trị về nội dung của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

    + Trước khi Pháp xâm lược (trước 1858), Nguyễn Đình Chiểu đề cao nhân nghĩa truyền thống, ca ngợi sự ứng xử tốt đẹp giữa người với con người, đó là tình yêu, tình bạn, nghĩa thầy trò, lẽ ghét thương ở đời. Nguyễn Đình Chiểu không đi ra ngoài cái mô típ quen thuộc của truyện nôm bình dân là kết thúc có hậu. Phải chăng đó cũng là khát vọng của bao người.

Sau khi pháp xâm lược (sau 1858) thơ văn thầy Đồ Chiểu đã.

   – Ca ngợi những con người dũng cảm hi sinh, đứng lên đánh giặc, vì nghĩa quên mình. Họ là người nông dân “ngoài cật có một manh áo mỏng” đến hàng ngũ viên lữ dám đứng về phía nhân dân chống giặc.

   – Ghi lại hình ảnh quê hương đất nước trong cảnh chạy giặc. Đó là cảnh “sẻ đàn tan nghé”.

   – Bày tỏ niềm tin vào ngày mai của đất nước.              

“Chừng nào thánh đế ân soi thấu/Một trận mưa nhuần rửa núi sông.

* Giá trị nghệ thuật:

– Tính chất đạo đức – trữ tình

– Màu sắc Nam Bộ qua ngôn ngữ, tính cách nhân vật.

 

* Với VTNSCG, lần đầu tiên trong LS DT có một tượng đài bi tráng và bất tử về người nông dân – nghĩa sỹ.

   – Trước Nguyễn Đình Chiểu chưa thấy người nông dân xuất hiện trong văn chương với tinh thần tự nguyện đứng lên chiến đấu.

    + Họ chỉ là nạn nhân của chiến tranh xâm lược (Bình Ngô đại cáo). Nếu có được làm lính triều đình thì cũng chỉ xuất hiện trong đội ngũ “Ba quân hùng khí át sao ngưu”

    + Bài Hịch tướng sĩ nổi tiếng của Trần Quốc Tuấn đối tượng nói tới cũng là hàng tưởng (Dụ Chư tì tướng).

    + Truyện Kiều của Nguyễn Du vắng những buổi trưa đầy nắng và cuộc sống của người dân chân lấm tay bùn không hề xuất hiện. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du có đề cập tới đôi, ba cảnh người nghèo như Sở kiến hành, Thái Bình mại ca giả thì cũng chỉ là những cảnh thương tâm đầy nước mắt, sự thổn thức của người nghệ sĩ có trái tim lớn.

    + N.Huệ có vai trò lớn trong việc thống nhất đất nước và tiêu diệt ngoại xâm ở hai đầu tổ quốc. Nhưng đi vào văn chương cũng chỉ hào hùng ở hồi 14 “Quang Trung đại phá quân Thanh”. Trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí. Tiêu đề của tác phẩm này cũng nhằm đề cao vai trò thống nhất đất nước của vua Lê.

   – Phải đến Nguyễn Đình Chiểu thì hình ảnh người nông dân xuất hiện trong văn chương tương xứng với họ ở ngoài đời.

   – Sau Nguyễn Đình Chiểu.

    + Người nông dân xuất hiện nhiều trong văn chương với tư cách con người chiến sĩ, con người công dân nhưng chưa thấy hình ảnh nào khoẻ khoắn, gây ấn tượng sâu sắc như người nghĩa sĩ nông dân trong bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu. Một số tác phẩm tuy có xây dựng được những điển hình về người nông dân như cụ Mết (Rừng xà Nu, Nguyễn Trung Thành) ông Tán Xợ Đước (Đất, anh Đức)… Đó là những nhân vật được trau chuốt, tô đậm vẫn thiếu cái gì vừa thô nhám vừa chân thật của đời thường.

Soạn Bài Ôn Tập Văn Học Trung Đại Việt Nam Lớp 11 | Văn Mẫu
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

soan bai khai quat van hoc viet nam

Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Lớp 11 Tiếp Theo |Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Khái quát văn học Việt Nam …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *