Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 10 / Hướng Dẫn Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Lớp 10 | Văn Mẫu

Hướng Dẫn Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Lớp 10 | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Phương pháp thuyết minh (Bài làm của học sinh Phạm Thủy Hương)

Đề bàiHướng Dẫn Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Lớp 10

 

BÀI LÀM

I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHƯƠNG PHÁP THUYẾT MINH

– Bài văn thuyết minh cần đạt những yêu cầu sau:

+ Đảm bảo cung cấp thông tin về đối tượng một cách trung thực, chính xác và khách quan.

+ Nội dung thuyết minh phải chuẩn xác, hấp dẫn, sinh động.

+ Trình tự thuyết minh phải hợp lí khoa học, nhất quán(theo không gian, thời gian, sự việc…)

– Muốn viết được văn bản thuyết minh thì ngoài tri thức và nhu cầu, chúng ta cần có phương pháp thuyết minh.

=> Phương pháp thuyết minh là công cụ để phục vụ cho mục đích thuyết minh, hay nói khác đi phương pháp thuyết minh luôn đi liền với mục đích thuyết minh.

II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THUYẾT MINH.

1. Ôn lại một số phương pháp thuyết minh đã học.

– Phương pháp định nghĩa giải thích:

+ Mô hình A là B: trong đó A là đối tượng cần thuyết minh còn B là tri thức về đối tượng (đó có thể là kiến thức về lịch sử văn hóa hay nguồn gốc của sự vật,tính chất của sự vật giúp cho người đọc hiểu về đối tượng.

VD: Huế là một trong các trung tâm văn hóa nghệ thuật lớn của Việt Nam.

– Phương pháp liệt kê: là phương pháp kể ra lần lượt các đặc điểm tính chất…của sự vật theo trật tự nào đó.

VD: Cây dừa Bình Định, thân cây làm máng, lá cây làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống…cùi dừa ăn sống với bánh đa…sọ dừa làm khuy áo…vỏ dừa bện dây.

=>Với phương pháp này giúp người đọc hiểu sâu sắc toàn vẹn và có ấn tượng với nội dung dược thuyết minh.

– Phương pháp nêu ví dụ:

+ Dẫn ra các ví dụ cụ thể để người đọc tin vào nội dung được thuyết minh.

VD: Đặc biệt bao bì ni lông màu đựng thực phẩm do chứa các kim loại như chì, cađimi gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi…

– Ngoài ra còn có một số phương pháp như dùng số liệu, so sánh, phân loại , phân tích.

* Thực hành các bài tập (sgk tr 48,49):  Những phương pháp thuyết minh của các đoạn trích.

– Đoạn trích 1 Ngô Sĩ Liên đã sử dụng phương pháp liệt kê, giải thích. Tác dụng đảm bảo tính chuẩn xác và tính thuyết phục cho mục đích thuyết minh: là công lao tiến cử người tài cho đất nước của Trần Quốc Tuấn.

– Đoạn trích 2, Hàn Thủy Giang dùng phương pháp thuyết minh: phân tích, giải thích cho mục đích thuyết minh là những nguyên nhân thay đổi bút danh của thi sĩ Ba Sô, từ đó cung cấp các thông tin mới bất ngờ thú vị cho người đọc.

– Đoạn trích 3, người viết đã sử dụng phương pháp nêu số liệu và so sánh cho mục đích thuyết minh: giúp người đọc hiểu về cấu tạo của tế bào. Đã tạo được sự háp dẫn và gây ấn tượng mạnh.

– Đoạn trích 4, Vũ bằng đã sử dụng phương pháp: phân tích, giải thích cho mục đích thuyết minh về một loại hình nghệ thuật dân gian. Giúp cung cấp những hiểu biết mới thú vị cho người đọc.

2. Tìm hiểu thêm một số phương pháp thuyết minh 

a. Thuyết minh bằng cách chú thích

* Ví dụ: “ Ba Sô là bút danh”

– Với câu Ba Sô là bút danh chúng ta có thể gặp những câu tương tự như: “Ba Sô là tên hiệu, Ba Sô là tên chữ, tức là tác giả chỉ chú thích cho danh xưng Ba Sô mà chưa đưa ra các đặc điểm cơ bản để phân biệt với các nhà thơ khác

– So sánh sự khác biệt

Phương pháp định nghĩa Phương pháp chú thích
* Giống nhau: cùng có mô hình A là B.

* Khác nhau:

– Nêu ra những thuộc tính cơ bản của đối tượng, để phân biệt sự khác biệt của đối tượng này với các đối tượng khác nằm trong cùng một loại. VD như nhà thơ X với nhà thơ Y, danh lam X với danh lam Y.

– Đảm bảo tính chuẩn xác và độ tin cậy cao

 

– Nêu ra một tên gọi khác hoặc một cách nhận biết khác, có thể chưa phản ánh đầy đủ các thuộc tính, bản chất của đối tượng. VD: Tên hiệu của Nguyễn Khuyến là Quế Sơn, của Nguyễn Du là Thanh Hiên, của Nguyễn Công Trứ là Ngộ Trai…

– Có tính linh hoạt mềm dẻo, đa dạng hóa văn bản, phong phú hóa về cách diễn đạt

b. Thuyết minh bằng cách giảng giải nguyên nhân kết quả:

– Trong hai mục đích đã nêu thì mục đích 1 là chủ yếu vì đây mới là bức chân dung tâm hồn của thi sĩ Ba Sô.

– Các ý trong đoạn văn có quan hệ nhân quả với nhau: vì từ niềm say mê cây chuối (nguyên nhân) mới dẫn đến việc ra đời (kết quả) bút danh Ba Sô.

– Các ý được trình bày hợp lí sinh động và rất bất ngờ thú vị hấp dẫn.

III. YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THUYẾT MINH.

– Cần căn cứ vào mục đích thuyết minh để lựa chọn phương pháp thuyết minh phù hợp.

– Phương pháp thuyết minh ghóp phần sinh động hóa văn bản htuyết minh để tạo hứng thú cho mgười đọc.

Loading...

III. LUYỆN TẬP

Bài tập 1:

Các phương pháp thuyết minh được sử dụng trong đoạn văn đã cho là:

– Phương pháp chú thích: Hoa lan đã được người phương Đông tôn là “Loài hoa vương giả” (Vương giả chi hoa). Còn với người phương Tây thì lan là “nữ hoàng của các loài hoa”.

– Phương pháp phân tích giải thích: Họ lan thường được chia thành hai nhóm: nhóm phong lan bao gồm tất cả những loài sống bám trên đá, trên cây, có rễ nằm trong không khí. Còn nhóm địa lan lại gồm những loài có rễ nằm trong đất hay lớp thảm mục.

– Phương pháp nêu số liệu: (…) Chỉ riêng 10 loài của chi lan Hài Vệ nữ đã cho thấy sự đa dạng tuyệt vời của hoa và của lá về hình dáng, về màu sắc.

–> Ngoài sự vận dụng các phương pháp thuyết minh trên tác giả còn sử dụng các yếu tố miêu tả hấp dẫn: Với cánh môi cong lượn như gót hài, cánh hoa trong mãnh và mang hoà sắc tuyệt diệu của trắng, vàng, phớt tím, nâu, khi có làn gió nhẹ, hoa Hài Vệ nữ rung rinh tưởng như cánh bướm mảnh mai đang bay lượn.

Đây là đoạn trích văn bản thuyết minh được viết nhằm cung cấp những tri thức về hoa lan, một loài hoa được ưa chuộng. Người viết tỏ ra có những hiểu biết thật sự khoa học, chính xác, khách quan về hoa lan ở Việt Nam.

Trong đoạn thuyết minh này, tác giả đã phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh: chú thích, phân loại, liệt kê, nêu ví dụ, … nhờ đó mà lời thuyết minh trở nên linh hoạt, sinh động và hấp dẫn.

Bài tập 2:

a. Bài thuyết minh về nghề trồng lúa
    Vốn là một nước nông nghiệp nên trồng lúa là nghề lâu đời và phổ biến nhất ở Việt Nam. Đến Việt Nam, đi đâu bạn cũng sẽ thấy những cánh đồng lúa xanh rì thời con gái hoặc chín vàng óng trải mênh mông đến ngút tầm mắt. Tâm hồn bạn sẽ dịu lại và sẽ cảm thấy thanh thản, thoải mái vô cùng, bao nhiêu mệt nhọc của đời sống thị thành và nhịp sống công nghiệp-sẽ nhanh chóng tan biến.
    Công việc chính của người nông dân Việt Nam là trồng lúa. Để có dược những hạt cơm trắng tinh, thơm lừng trong bữa ăn, người nông dân đã đổ rất nhiều mồ hôi của mình xuống những luống cày. Trồng lúa có rất nhiều công đoạn. Đầu tiên là dùng sức kéo của trâu, bò hoặc máy để cày đất lên. Sau đó bừa đất cho thật nhuyễn rồi cấy cây mạ xuống thành những hàng thẳng hoặc gieo ngay những hạt lúa giống đã cho nảy mầm, công việc này gọi là “sạ”. Cây lúa lớn lên là cả một quá trình chăm sóc hết sức công phu: làm cỏ, bón phân, trừ dịch bệnh… Sau ba tháng lúa bắt đầu chín, người nông dân dùng lưỡi liềm cắt lúa, dùng máy để tuốt hạt ra khỏi bông lúa. Sau đó đem phơi khô, đổ vào những thùng chứa lớn để xay gạo ăn dần cho đến vụ thu hoạch mới.
    Hiện nay, nghề trồng lúa ở Việt Nam rất phát triển, máy móc đã dần dần thay thế sức người. Trồng lúa bây giờ không chỉ để thoả mãn nhu cầu lương thực trong nước mà còn là hàng hoá xuất khẩu có giá trị, đem lại lợi nhuận không nhỏ cho quốc gia. Việt Nam hiện nay là một trong những nước dứng hàng đầu trong xuất khẩu gạo của thế giới.
b. Bài thuyết minh về nghề nuôi tằm
    Để nuôi tằm sơ sinh, người ta chọn lá dâu non, xắt mỏng. Dao xắt là một loại chuyên dùng gọi là dao dâu, có lưỡi dài khoảng 50 cm, to bản, mũi bằng và sắc bén. Cán dao cũng dài tương đương với lưỡi. Tằm trưởng thành ăn rất bạo. Chỉ trong chốc lát, chúng nuốt chửng một lượng lá dâu tương đương với trọng lượng của cơ thể chúng.
    Người ta cho tằm ăn bằng cách đổ phủ lá dâu, có khi để nguyên lá với cành vào nong có tằm. Vài giờ sau, tằm ăn lá hết sạch. Tằm ăn từ mép lá ăn vao, tạo thành hình vòng cung.
Trồng dâu và nuôi tằm, người ta luôn giữ vệ sinh môi trường. Điều tối kị hàng đầu là mùi thuốc lá. Gần ruộng dâu, không được trồng thuốc lá, dù là trồng ít. Vì thuốc lá làm cho cây dâu chết hàng loạt. Một điều tối kị khác là mùi súc vật chết. Xác súc vật chết không được bỏ vào ruộng dâu. Tằm ăn lá dâu có bón xác súc vật chết sau đó sẽ không ăn lá dâu khác nữa. Vì vậy khi phát hiện có xác súc vật chết trôi sông gần bãi dâu, người ta phải vớt đem đốt và chôn ở cách xa ruộng dâu, bảo vệ môi trường tinh khiết cho tằm.
    Tằm ăn khoảng 15 kg lá dâu sẽ cho khoảng 1 kg kén tươi. Mỗi ổ kén cho một sợi tơ đơn dài chừng 800 m trở lên. Ươm khéo người ta đạt được kết quả : cứ 7 kg kén, có thể thu được 1 kg tơ nõn, tức là 100 tới 130 kg tơ trên 1 ha trồng dâu. Nuôi tằm hiệu quả hơn trồng lúa, cho nên có câu : “Làm ruộng ba năm, không bằng nuôi tằm một lứa”.
Hướng Dẫn Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Lớp 10 | Văn Mẫu
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

soan bai noi dung va hinh thuc cua van ban van hoc

Soạn Bài Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học Lớp 10 | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Nội dung và hình thức của …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *