Home / SOẠN VĂN / Hướng Dẫn Soạn Bài Thơ Hai Cư Của Ba Sô Lớp 10 | Văn Mẫu

Hướng Dẫn Soạn Bài Thơ Hai Cư Của Ba Sô Lớp 10 | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Thơ hai-cư của Ba-sô Lớp 1o. (Bài làm của học sinh Hoàng Minh Trang Trường THPT Bình Giang – Hải Dương)

Đề bài: Hướng dẫn Soạn bài Thơ hai cư của Ba-sô Lớp 10

Bài làm

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

– Ma su ô ba sô (1644 – 1694)

– Sinh trưởng trong một gia đình võ sĩ đạo Sa-mu-rai ông thích thơ văn hội hoạ từ thủa nhỏ, thích đi du lịch nhiều nơi để thăm viếng bạn bè. 

– 28 tuổi, ông chuyển đến kinh đô Êđô sinh sống và làm thơ Hai-cư, bút hiệu là Ba-sô (Ba Tiêu).

– 10 năm cuối đời, ông du hành hầu khắp đất nước.

– Con người: tài hoa, ưa lãng du.

– Ông được đánh giá là bậc thầy về thơ Hai-cư.

– Các tác phẩm: Phơi thân đồng nội (1685), Đoản văn trong đãy (1688), Cánh đồng hoang (1689), Áo tơi cho khỉ (1691), Lối lên miền Ô-ku (1689).

2. Thể thơ Hai-cư:

– Có 17 âm tiết (hơn một chút), ngắn nhất thế giới, được ngắt làm 3 đoạn (5-7-5).

– Thường miêu tả thiên nhiên theo mùa (quý đề), sử dụng những từ miêu tả thiên nhiên mùa (quý ngữ).

– Thấm đẫm tinh thần Thiền tông và văn hóa phương Đông.

– Cảm thức thẩm mĩ: đề cao cái Vắng lặng, Đơn sơ, U huyền, Mềm mại, Nhẹ nhàng. 

– Ngôn ngữ: hàm súc, thiên về gợi, ko tả.

-Thi pháp “chân không”: sử dụng những mảng trắng, khoảng trống trong bài thơ như một phương tiện làm nổi bật ý nghĩa của bài thơ.

II. Tìm hiểu chi tiết

1. Bài 1:

– Ghi lại sự thực về cuộc đời nhiều biến đổi, lãng du của Ba-sô: quê ở Mi-ê, lên Ê-đô (Tô-ki-ô) ở được 10 năm rồi trở về thăm quê.

– Gợi tình cảm tha thiết, chân thành với miền đất từng gắn bó: Ê-đô. Cố hương- quê cũ”nơi gắn bó máu thịt. Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng nghệ thuật hoán dụ, dùng thời gian mười mùa sương xa quê để chỉ mười năm đằng đẵng nhà thơ sống ở Ê-đô. Điểm đặc biệt ở đây là cảm xúc thương nhớ của nhà thơ được khơi gợi không phải từ cảm xúc mong ngóng được về quê hương của mình. Trái lại, cảm xúc này được khơi gợi từ hoàn cảnh có một lần trở về quê cha đất tổ, ông phải rời xa Ê-đô nhưng không thể nào quên được vùng đất này. Hình ảnh mười mùa sương gợi lên khung cảnh lạnh giá của vùng Ê-đô cùng những tháng năm nhà thơ chịu nhiều gian khổ ở vùng đất khách. Cũng qua hình ảnh biểu trưng đó, nhà thơ đã thể hiện nỗi lòng lạnh giá của kẻ xa quê. Mười năm gắn bó với nơi này, dù đó là đất khách cũng không thể không có tình cảm. Trong lời thơ Việt cũng từng có tác giả bộc lộ cảm xúc như vậy: 

– Liên hệ: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn” (Tiếng hát con tàu- Chế Lan Viên).

2. Bài 2:

– Quý ngữ: chim đỗ quyên “mùa hè.

– Sự thực cuộc đời Ba-sô: ở kinh đô (10 năm) “về quê (20 năm) “trở lại kinh đô.

– Ở kinh đô mùa hè (hiện tại) “nhớ kinh đô xưa- kỉ niệm đã qua “nỗi niềm hoài cổ. Bài thơ là sự hoài cảm của tác giả được truyền tải qua tiếng chim đỗ quyên. Đây là loài chim báo hiệu màu hè với tiếng kêu nghe khắc khoải, da diết. Chính âm thanh ấy đã gọi lại kỉ niệm một thời tuổi trẻ sống dậy trong lòng nhà thơ. Đối với người trẻ, mùa hè là mùa của kỉ niệm, của những trò nghịch ngợm đùa vui thuở nhỏ. Chính vì thế, khi nghe tiếng loài chim báo hiệu mùa hè, cảm xúc dâng trào trong lòng thi nhân là tiếng lòng da diết gợi tuổi trẻ xen lẫn niềm vui nỗi buồn, đầy thương nhớ nhưng chỉ là hoài niệm mơ hồ về một thời xa xăm. Thơ Ba-sô đã gây ấn tượng bởi cảm xúc được gợi lại từ âm thanh đầy lãng mạn. Câu thơ cũng mang nhịp điệu êm dịu càng có khả năng khẳng định một cách thầm lặng nỗi nhớ, sự hoài cảm dâng lên trong lòng nhà thơ.

3. Bài 3:

– Hình ảnh mái tóc bạc “di vật của người mẹ đã mất; biểu tượng cho cuộc đời vất vả một nắng hai sương của người mẹ.

– Quý ngữ: làn sương thu “hình ảnh đa nghĩa:

+ Giọt lệ như sương.

+ Tóc mẹ như sương.

+ Đời người như giọt sương- ngắn ngủi, vô thường.

– Hình ảnh dòng “lệ trào nóng hổi” “nỗi xót xa, đau đớn vì  mất mẹ “tình cảm mẫu tử cảm động.

Loading...

4.Bài 4:

Trong Du kí Phơi thân đồng nội viết năm 1685, Ba-sô kể chuyện một lần đi ngang qua cánh rừng ông bỗng nghe thấy tiếng vượn hú. Tiếng ấy gợi ông nhớ đến tiếng khóc của một em bé bị bỏ rơi trong rừng.

Tiếng hú não nề

Hay tiếng trẻ bị bỏ rơi than khóc?

Gió mùa thu tái tê

   Ở Nhật, ngày xưa  vào  những năm mất mùa có nhà không nuôi nổi con phải bỏ con vào rừng. Thậm chí còn đang tâm giết đứa trẻ nữa. Nghe tiếng vượn hú mà Ba-Sô lại liên tưởng đến tiếng người. Tiếng vượn hay chính là tiếng trẻ con khóc thật. Trong gió mùa thu hay tiếng gió đang than khóc cho nỗi đau của con người.

5.Bài 5:

– Quý ngữ: Mưa đông chỉ mùa đông

– Bài thơ này Ba-Sô sáng tác khi đi du hành ngang qua một cánh rừng, ông thấy một chú khỉ nhỏ đang lạnh run lên trong cơn mưa mùa đông. Nhà thơ tưởng tượng thấy chú khỉ đang thầm ước có một chiếc áo tơi để che mưa, che lạnh.

– Hình ảnh chú khỉ đơn độc trong bài thơ gợi lên hình ảnh người nông dân Nhật Bản, gợi hình ảnh những em bé nghèo đang co ro trong cơn lạnh. Bài thơ thể hiện tình thương yêu sâu sắc của nhà thơ đối với những kiếp  người nghèo khổ.

6.Bài 6:

– Quý ngữ: hoa anh đào “mùa xuân.

– Cảnh những cánh hoa đào rụng lả tả làm mặt hồ lăn tăn sóng gợn “cảnh tĩnh, đơn sơ, giản dị và đẹp.

– Triết lí Thiền tông: sự tương giao của các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ.  

7.Bài 7:

– Quý ngữ: âm thanh “tiếng ve ngân”, đặc trưng của mùa hè.

– Sự liên tưởng chuyển giao giữa mùa này với mùa khác được hòa quyện với cái nhìn, sự cảm giao và lắng nghe âm thanh đọng lại trong không gian. Điều đó chứng tỏ nhà thơ có sự cảm nhận vô cùng tinh tế và sâu sắc. Hình ảnh thơ rất đẹp, rất dịu dàng: hoa đào, hồ Bi-wa và tiếng ve ngân không chỉ lan tỏa trong không gian mà còn thấm sâu vào đá, dạng vật chất biểu tượng cho tính cứng cỏi, vững chắc. Câu thơ đắm chìm trong cảm nhận sâu sắc, đắm trong cái tình của con người với thiên nhiên và tạo vật.

8.Bài 8:

– Quý ngữ: Cánh đồng hoang vu chỉ mùa đông

– Bài thơ này viết ở Ô-sa-ka (năm 1694). Đây là bài thơ từ thế của ông. Trước đó, ông đã thấy mình yếu lắm rồi, như một cánh chim sắp sửa bay khuất vào chân trời vô tận.

– Nhưng cả cuộc đời Ba- Sô là cuộc đời lang thang phiêu bồng, lãng du. Vì thế ngay cả khi sắp từ giã cõi đời, ông vẫn còn lưu luyến lắm, vẫn còn muốn tiếp tục cuộc đi – đi bằng hồn mình. Và ta lại như thấy hồn Ba- Sô lang thang trên khắp những cánh đồng hoang vu.

III/ Tổng kết:

1.Nội dung:Thơ Ba – sô đã thức dậy nỗi nhớ da diết trong lòng những người xa quê hương xứ sở.

2. Nghệ thuật:

– Câu thơ ngắn, hàm súc.

– Hình ảnh thiên nhiên, tạo vật đầy gợi cảm trong liên tưởng.

 

Hướng Dẫn Soạn Bài Thơ Hai Cư Của Ba Sô Lớp 10 | Văn Mẫu
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

soan bai noi dung va hinh thuc cua van ban van hoc

Soạn Bài Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học Lớp 10 | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Nội dung và hình thức của …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *