Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 11 / Soạn Bài Thương Vợ Lớp 11 Của Trần Tế Xương / Làm Văn Mẫu

Soạn Bài Thương Vợ Lớp 11 Của Trần Tế Xương / Làm Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Thương vợ của Trần Tế Xương (Bài làm của học sinh)

Đề bài: Soạn Bài Thương Vợ Lớp 11 Của Trần Tế Xương / Làm Văn Mẫu

BÀI LÀM

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả:

* Tiểu sử và con người

+ Tiểu sử: Tên thật là: Trần Tế Xương, tự Mạc Trai, hiệu Mộng Tích, Tứ Thịnh. Tên ban đầu là Trần Duy Uyên. Sinh ngày: 10/8/1870, quê ở Vị Xuyên – Mĩ Lộc – Nam Định nay là phố hàng Nâu thành phố Nam Định.

+ Con người: Đi học sớm và cũng sớm nổi tiếng là người thông minh, giỏi thơ phú.

– Song vì trong thời đại nho đã vào lúc cuối mùa nên thi cử lận đận. Thời đại làm cho ông vỡ mộng công danh.  Ông thi tất cả 8 lần. Chỉ đỗ vớt một kỳ thi tú tài, khoa Bính Ngọ, đổi tên là Trần Cao Xương song vẫn đen đủi:

“Tế đổi làm Cao mà chó thế

  Kiện trông ra hỡi trời ơi.”

Việc Tú Xương bất thành trong thi cử một phần do tính cách phóng túng “Văn chương ngoại hạn quan không chấm”.         

+ Ở Tú Xương hình thành nhiều thú chơi tân kỳ khác xã so với nhà thơ vốn có.

– Thơ văn Tú Xương là một trường hợp nằm ngoài quy luật của sự băng hoại. Lúc nào thơ văn của ông cũng như một chàng trai xinh đẹp, sung sức, bất chấp mọi thử thách của thời gian. Bài học hôm nay giúp chúng ta tìm hiểu về thơ văn Tú Xương.

* Sự nghiệp:

– Tú Xương chỉ sống 37 năm nhưng để lại 150 bài thơ chủ yếu là thơ Nôm, đủ các thể loại: Thơ luật, thơ lục bát và văn tế.

– Thơ Tú Xương xuất phát từ cái tâm của mình toả ra hai nhánh trào phúng và trữ tình.

+ Mảng trữ tình:

  •  Nỗi đau buồn về thời thế, thất bại trên con đường công danh, đạo Nho đã lỗi thời:

“Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn

Đêm nảo đem nao tớ cũng buồn”

  • Nỗi tủi hổ bởi sự nghèo đói luôn đè nặng

“Van nợ có khi trào nước mắt

Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”

  • Tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương, vẻ đẹp quá khứ, nỗi buồn cho vận nước

“Sông kia rày đã lên đồng

Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai

Vẳng nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình còn ngỡ tiếng ai gọi đò”

  • Tình cảm bạn bè, tình cảm với vợ con, gia đình

“Nào ai có tiếc ai đâu

Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô”

=> Những vần thơ trữ tình cho thấy Tú Xương là con người có tâm hồn giàu tình cảm, hóm hỉnh ân tình và cũng rất phong tình

+ Mảng thơ trào phúng

  • Đả kích bọn thực dân: hình ảnh những ông sứ, ông cò:

“Hà Nam danh giá nhất ông cò

Trông thấy ai ai chẳng dám ho”

  • Bọn quan lại chen nhau kiếm chút danh lợi, học chỉ còn là hình thức, tuyển chọn xô bồ, mua quan bán tước:
  • Giới tu hành làm điều xằng bậy

“Quảng đại từ bi cũng đi tù

Hay là sư cụ vụng đường tu”

  •  Hình ảnh những người phụ nữ me tây

“Váy lê quét đất mụ đầm ra”

“Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng”

  • Đồng tiền làm suy đồi giá trị đạo đức

“Kẻ yêu người ghét hay gì chứ

Đứa trọng thằng khinh chỉ vì tiền”

  • Tự chế giễu bản thân

“Đất Vị Xuyên có Tú Xương dở dở ương ương

Râu rậm bằng chổi đầu to bằng giành”

=> Bức tranh hiện thực trong thơ Tú Xương là một bức tranh xám xịt dường như chỉ có rác rưởi, đau buồn, vì hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến. Với thơ Tú Xương không cần gấm hoa, son, phấn. Thơ đến thẳng với đời mà cuộc đời đấy lại là cuộc đời với tất cả cái sần sùi, cái sù sì của nó.

Giáo sư Lê Đình Kị nhận xét: “Tú Xương được thời buổi biến thành nhà thơ lớn nhất của nền văn học Việt Nam”; Chế Lan Viên khi nói về thơ Tú Xương cũng viết: “Có tiếng cười gằn như mảnh vỡ thuỷ tinh”. Tú Xương xuất hiện như một phong cách trào phúng nhiều cung bậc, nhưng độc đáo hơn vẫn là tiếng cười dữ dội, quyết liệt

=> Có công lớn trong việc đổi mới tiếng Việt trong văn học, việt hóa thơ Đường luật, chuẩn bị cho bước hiện đại hóa thơ ca dân tộc

soan bai thuong vo
Soạn Bài Thương Vợ Lớp 11 Của Trần Tế Xương / Làm Văn Mẫu

2. Văn bản:

* Hoàn cảnh sáng tác

– Bài thơ ra đời khi Tú Xương trên dưới 30 tuổi, đã có 5 con (4 trâi, 1 gái), gia cảnh túng bấn, thi cử lận đận. 

( Bà Tú: Tên thật là Phạm Thị Mẫn ở Lương Đường – Bình Giang – Hải Dương nhưng sinh ra ở Nam Định. Bà Tú có cửa hàng gạo ở “mom sông” chỗ đất nhô ra giáp với sông. Bà Tú đã trở thành đề tài quen thuộc của ông Tú. Khi nhà thơ gọi là “mẹ mày” lúc là “cô gái nuôi một thầy đồ”, lúc âu yếm gọi là “mình”.)

* Thể loại và bố cục:

– Bài thơ được làm theo thể thơ Nôm Đường luật

– Văn bản được bố cục theo hai phần:

Loading...

+ Bốn câu trên: Hình ảnh bà Tú hiện lên rất chịu thương, chịu khó, tần tảo đảm đang.

+ Bốn câu còn lại: Thái độ của Tú Xương đối với người vợ của mình.

II. ĐỌC – HIỂU

1. Hình ảnh bà Tú chịu thương, chịu khó, tần tảo đảm đang:

* Hai câu đề:

– Bà Tú hiện lên qua từ ngữ, hình ảnh:

+ Quanh năm -> diễn tả thời gian hết ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác. Cái không ngừng không nghỉ trong công việc

+ Mom sông -> mô đất nhô ra. Nơi neo đậu của thuyền chài, thuyền buôn chuyến. Đấy cũng là nơi đầu sóng, ngọn gió mà bà Tú phải trải qua trong việc làm ăn, buôn bán. Trong hai chữ mom sông, nhà thơ vừa phác ra một không gian, một dáng người bươn trải, vừa thể hiện được niềm thương xót người vợ tần tảo của mình. Ông hiểu vợ mình đã phải nếm trải những vất vả quá sức mà đáng ra bà không vất vả đến thế,nếu ông không phải là kẻ vô tích sự.

=> Lựa chọn những hình về thời gian, không gian, Tú Xương cốt để ghi nhận công lao vất vả của bà Tú.

– Ghi nhận công lao của vợ, nhà thơ dùng từ “nuôi đủ”. Có lẽ trong cảm nhận của Tú Xương không thể có được người vợ nào trọn vẹn, chu toàn hơn thế. Nuôi đủ có thể hiểu rằng bà Tú không chỉ lo đủ về số lượng mà còn đảm bảo cả chất lượng cho cuộc sống của bố con ông Tú. Nuôi đủ cũng có thể hiểu là: vừa đủ, không thừa, không thiếu

 – Đảo 5 con, 1 chồng  Chữ “với” trong câu thứ 2 đem đến sự bất ngờ, thú vị. Nhà thơ nhận thấy rõ việc nuôi chồng cũng vất chẳng kém việc nuôi con, 5 đứa đông đúc bé dại của mình. ý vị tự trào toát ra từ đây: nhà thơ không giúp được gì trong việc nuôi sống gia đình, trái lại chỉ là kẻ ăn theo, một thứ tội nợ làm cho gánh nặng của bà Tú càng thêm chao đảo hơn.

->Ghi nhận công lao của vợ, cũng chính là một cách biểu lộ tình thương của ông Tú với bà Tú. Nhịp đều, diễn tả gánh nặng đôi vai một bên là chồng, một bên là con. Tú Xương cảm thấy mình như bất lực, là gánh nặng của người vợ, ăn bám vợ. Ta càng thấy được sự đảm đang của bà Tú, công lao của bà Tú. Cả đời hi sinh vì chồng, vì con.

* Hai câu thực:

–  Hình ảnh “con cò”: quen thuộc trong dân gian. Hình ảnh này đã được Tú Xương sử dụng một cách sáng tạo ->Thân cò: thân phận người vợ, thân phận bà Tú

– Nghệ thuật đảo ngữ: “Con cò lặn lội” -> “Lăn lội thân cò”: cái vất vả của bà Tú là cái vất vả nhìn thấy, nó luôn thường trực

-> Nhấn mạnh sự vất vả, lam lũ của bà Tú đó là gánh nặng của giang sơn nhà chồng, gánh nặng của 7 miệng ăn đè nặng, qua đây ta cũng thấy được  tình thương và sự biết ơn của nhà thơ đối với vợ

– “Quãng vắng”: vắng vẻ, ít người qua lại (đồng nhất ẩn dụ nói về sự lẻ loi đơn chiếc trong công việc làm ăn của bà Tú)

   – “Eo sèo”: cảnh cãi cọ, câu bấc câu chì, kì kèo tranh mua tranh bán ở chốn chợ búa, bến nước bãi sông

   – “Đò đông” cũng có thể hiểu đông người trên một chuyến đò hoặc nhiều đò trên một sông và cũng có thể hiểu chuyến đò trong mùa đông

– Nghệ thuật: đối : quãng vắng >< đò đông

-> Tô đậm sự hi sinh vật lộn của bà Tú với cuộc sống. Đây cũng là thái độ xót thương da diết và chan chứa yêu thương của nhà thơ đối với vợ

  1. Hình ảnh ông Tú qua nỗi lòng thương vợ

 – Sử dụng triệt để thành ngữ dân gian: “Một duyên hai nợ”, “Năm nắng mười mưa”

+ Duyên: theo quan niệm của nhà phật chỉ quan hệ nhân quả. ở đời, vợ chồng lấy nhau là do một căn nguyên vô hình nào đó.

+ Nắng, mưa: sự nhàn nhã thì ít, sự vất vả khó nhọc thì nhiều (5,10)

+ Thành ngữ “ năm nắng mười mưa”… sử dụng lối nói tăng cấp diễn tả vất vả cực nhọc mà bà Tú phải gánh chịu, đồng thời  thể hiện đức tính chịu thương chịu khó hết lòng vì chồng con của bà

– Con người đảm đang tháo vát chu đáo với chồng con- gánh vác được một trách nhiệm nặng nề “ nuôi đủ năm con với một chồng”. Con người giàu đức hi sinh, không một lời phàn nàn, lặng lẽ chấp nhận sự vất vả vì chồng con

-> Số phận của bà Tú thật nặng nề, cay cực .Dù vất vả nhưng bà Tú vẫn nhẫn nhục chịu đựng, an phận. Đây chính là phẩm chất tốt đẹp, đức hy sinh nhẫn nhịn của những người mẹ, người vợ, những người phụ nữ Việt Nam nói chung

– Đằng sau sự khôi hài trào phúng là thái độ xót xa, ăn năn hối hận, thương cảm. Tú Xương không chỉ cảm mà còn nói lên nỗi vất vả của vợ. Cách nó khôi hài “ Nuôi đủ….”- Tú Xương tự hạ mình, coi bản thân là đứa con đặc biệt, kẻ ăn theo, ăn bám, ăn tranh của 5 đứa con

=> Tú Xương cảm phục vợ sâu sắc ….. nhập thân vào bà Tú để nói thay vợ những tâm sự

– Tú Xương đã bật lên những tiếng chửi (mượn lời của bà Tú)

+ Chửi xã hội

+ Thói: những nếp xấu đáng chê trách, lên án

+ “Thói đời ăn ở bạc”: cuộc đời đen bạc đểu cáng, xã hội thực dân chỉ chạy theo đồng tiền

– Tự chửi mình: Nhà thơ cất tiếng tự chửi mình, cái tội ăn ở bạc bẽo với vợ, để vợ phải chịu trăm đắng ngàn cay, cực khổ bon chen với cuộc đời.

-> Tâm trạng cay đắng và bất lực của nhà thơ trước cuộc đời

III. TỔNG KẾT 

1. Nội dung:

 – Tình yêu thương quí trọng vợ của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả gian truân và những đức tính cao đẹp của bà Tú . Tâm sự vẻ đẹp nhân cách của Tú xương ( nỗi đau, tiếng cười chua chát )

2. Nghệ thuật :

– Tiếp thu sáng tạo ngôn ngữ ca dao dân ca và thành ngữ , phong cách vừa ân tình vừa hóm hỉnh.

>> XEM THÊM: phân tích bài thơ Thương vợ

Soạn Bài Thương Vợ Lớp 11 Của Trần Tế Xương / Làm Văn Mẫu
1 (20%) 1 vote
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

soan bai khai quat van hoc viet nam

Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Lớp 11 Tiếp Theo |Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Khái quát văn học Việt Nam …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *