Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 11 / Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Lớp 11 Trích Thượng Kinh Kí Sự

Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Lớp 11 Trích Thượng Kinh Kí Sự

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Vào phủ chúa Trịnh – Trích Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác (Bài làm của học sinh Tường Vy)

Đề bài: Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Lớp 11 Trích Thượng Kinh Kí Sự 

Bài Làm

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả

* Cuộc đời

– Lê Hữu Trác sinh năm 1724 mất năm 1791, hưởng thọ 71 tuổi. Quê ở làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương nay thuộc huyện Yên Mĩ, Hưng Yên. Tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (ông già lười ở đất Thượng Hồng). Lười không phải đối lập với chăm chỉ mà không nghĩ gì và lo tính về con đường danh vọng.

– Gia đình có truyền thống học hành thi cử, đỗ đạt làm quan. Cha đẻ là quan Hữu Thị Lang Bộ Công. Lê Hữu Trác là con thứ 7 nên còn có tên là Chiêu Bảy. Gần ba

* Sự nghiệp

– Lê Hữu Trác không chỉ chữa bệnh giỏi mà còn soạn sách, mở trường, truyền bá y học. Sự nghiệp của ông được tập hợp trong bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 66 quyển biên soạn trong thời gian gần 40 năm. Đây là tác phẩm y học xuất sắc nhất trong thời trung đại. Quyển cuối cùng trong bộ sách này là một tác phẩm văn học đặc sắc Thượng kinh kí sự.

 * Thượng kinh kí sự

– Kí là loại hình văn xuôi tự sự dùng để ghi chép về hiện thực con người, cảnh vật đồng thời thể hiện cảm xúc chân thật của người viết. Kí Trung đại Việt Nam bắt đầu bằng tác phẩm: “Công dư tiệp kí” của Vũ Phương Đề (thế kỉ XVIII) là tác phẩm mở đầu cho thể kí ở Việt Nam. Sau đó là: “Cát Xuyên tiệp bút” của Trần Tiến, “Bắc hành tùng kí” của Lê Quýnh, “Vũ trung tuỳ bút” của Phạm Đình Hổ. Nhưng phải đến “Thượng kinh kí sự” của Lê Hữu Trác mới thực sự là tác phẩm kí hoàn chỉnh. Yêu cầu với người viết kí phải quan sát nhạy bén, giàu trí tưởng tượng. Đặc biệt phải có xúc cảm chân thành

– Đây là tập kí bằng chữ Hán đánh dấu sự phát triển của thể kí Việt Nam thời trung đại.Tác phẩm hoàn thành vào tháng 8/1783. ở thiên kí sự này, tác giả đã kết hợp nhiều bút pháp, như: du kí, nhật kí, hồi kí, kí phong cảnh, kí ghi người, ghi việc …

    – Tác phẩm đánh dấu sự phát triển của thể kí Việt Nam thời trung đại.Góp phần khẳng định Lê Hữu Trác không chỉ là thầy thuốc mà còn là một nhà văn, nhà thơ.

2. Văn bản

* Vị trí đoạn trích:

– Đến kinh đô, Lê Hữu Trác được xếp đặt ở nhà người em của Quận Huy – Hoàng Đình Bảo. Sau đó tác giả được đưa vào phủ chúa Trịnh để khám bệnh cho Thế tử Cán. Đoạn trích này bắt đầu từ đó.

–  Ghi lại một cách sinh động, chân thực về cuộc sống xa hoa uy quyền của chúa Trịnh, đồng thời bộc lộ thái độ xem thường danh lợi và khẳng định y đức của Lê Hữu Trác.

* Bố cục: Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh nói về việc Lê Hữu Trác lên tới kinh đô, được dẫn vào phủ chúa để bắt mạch, kê đơn cho Trịnh Cán. Đoạn trích trên có thể chia làm bốn đoạn nhỏ:

– Đoạn 1: Quang cảnh trong phủ chúa (từ Mồng 1 tháng 2 đến như phủ đào nguyên thuở…….  không có dịp).

– Đoạn 2: Thể trạng của Trịnh Cán (từ Đang dở câu chuyện đến đưa tôi ra “phòng chè” ngồi).

– Đoạn 3: Tâm trạng và cảm nghĩ của Lê Hữu Trác sau lần chữa bệnh cho thế tử (từ Một lát sau đến thường tình như thế).

I. ĐỌC – HIỂU

1. Cảnh sống xa hoa đầy uy quyền của chúa Trịnh và thái độ của tác giả

– Bậc danh y tuổi cao, tài lớn đã nhìn thấy và ghi lại quang cảnh ở phủ chúa Trịnh Sâm. Đó là cảnh cực kì xa hoa, tráng lệ và nổi lên quyền uy tột bậc của nhà Chúa.

+ Vào phủ Chúa phải qua nhiều lần cửa và “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”. “Đâu đâu cũng là cây cối um tùm chim kêu ríu rít, hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương…).

+ Trong khuôn viên phủ Chúa “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi”. Bài thơ ghi lại cảm nhận của tác giả để minh chứng cho cảnh sống xa hoa, uy quyền của phủ Chúa.

Lính nghìn cửa vác đòn nghiêm ngặt

Cả trời Nam sang nhất là đây”.

+ Nội cung được miêu tả gồm những chiếu gấm, màn là, sập vàng, ghế rồng, đèn sáng lấp lánh,hương hoa ngào ngạt, cung nhân xúm xít, mặt phấn áo đỏ…

+ Ăn uống thì “Mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn của ngon vật lạ”.

+ Về nghi thức: Lê Hữu Trác phải qua nhiều thủ tục mới được vào thăm bệnh cho Thế tử. Nào là phải qua nhiều cửa, phải chờ đợi khi có lệnh mới được vào. “Muốn vào phải có thẻ” vào đến nơi, người thầy thuốc Lê Hữu Trác phải “lạy bốn lạy”, khám bệnh xong đi ra cũng phải “lạy bốn lạy”.

=> Tất cả những chi tiết trên cho người đọc nhận thấy phủ chúa Trịnh thật lộng lẫy, sang trọng, uy nghiêm. Lời lẽ nhắn tới chúa Trịnh và Thế tử đều phải hết sức cung kính (thánh thượng, ngự, yết kiến, hầu mạch…). Chúa Trịnh luôn luôn có “phi tần chầu chực” xung quanh. Tác giả không thấy mặt Chúa mà chỉ làm theo mệnh lệnh của Chúa do quan Chánh đường truyền đạt lại. Xem bệnh xong chỉ được viết tờ khải để dâng lên Chúa. Nghiêm đến nỗi tác giả phải “Nín thở đứng chờ ở xa”. è Đó là cảnh sống cực kì xa hoa, tráng lệ và làm nổi bật lên uy quyền tột bậc của nhà chúa.

– Đó là tài quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động giữa con người với cảnh vật. Thuật lại sự việc theo trình tự diễn ra. Ta có cảm giác, tác giả không hề thêm thắt, hư cấu mà cảnh vật, sự việc cứ hiện ra mồn một. Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc. Đằng sau bức tranh và con người ấy chứa đựng, dồn nén bao tâm sự của tác giả.

– Với tư cách của một người: “Vốn con quan, sinh trưởng ở chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành mình cũng đã từng biết. Chỉ có những việc trong phủ chúa là mình chỉ mới nghe nói thôi”. Bước chân tới đây tác giả không bộc lộ trực tiếp thái độ. Song ngòi bút sắc sảo, ghi lại những gì mắt thấy, tai nghe của tác giả, người đọc nhận ra thái độ của người cầm bút. Tác giả tỏ ra dửng dưng trước những quyến rũ của vật chất. Ông sững sờ trước quang cảnh của phủ chúa. “Khác gì ngự phủ đào nguyên thuở nào” (một ngự phủ chèo thuyền theo dòng suối lạc vào động tiên). Việc được hưởng thụ giàu sang đang nằm trong tay, nhưng rút cục tác giả chẳng thiết tha gì. Đây là đường vào nội cung Thế Tử: “ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả”.

– Phải chăng thái độ gián tiếp của tác giả tỏ ra không đồng tình với cuộc sống xa hoa, hưởng lạc thú quá mức của những người giữ trọng trách quốc gia. Cách tìm cuộc sống an nhàn nơi ẩn dật rõ ràng là sự đối trọng gay gắt với cách sống của gia đình chúa Trịnh Sâm và bọn quan lại dưới trướng. Thì ra tất cả những thứ sơn son, thiếp vàng, võng điều áo đỏ, sập vàng, gác tía, nhà cao cửa rộng, hương hoa thơm nức, đèn đuốc lấp lánh… Chỉ là phù phiếm, hình thức che đậy những gì nhơ bẩn bên trong. Những thứ đó qua cái nhìn của một ông già áo vải, quê mùa tự nó phơi bày tất cả. Điều đó giúp ta khẳng định Lê Hữu Trác không thiết tha gì với danh lợi với quyền quý cao sang. Ông khinh thường tất cả.

– Đó là sự thành công khi miêu tả con người.Từ quan truyền chỉ đến quan chánh đường, từ người lính khiêng võng, cầm lọng đến các quan ngự y, từ những cô hầu gái đến những phi tần, mĩ nữ đều hiện lên rất rõ. Nhưng rõ nhất là Thế tử Cán.

=> Với ngững chi tiết sắc nét gây ấn tượng mạnh mẽ đó vẽ nờn bức tranh Phủ chỳa cú hồn .Con mắt quan sát của nhà văn quả là tinh tế. Uy quyền tối thượng và việc ăn chơi hưởng lạc của nhà chúa tự nó phơi bày ra trước mắt người đọc không cần thờm lời bỡnh luận nào . Đó chính là hiện thực sâu sắc của đoạn trích cũng là của cả tập kớ sự.

mươi tuổi Lê Hữu Trác về sống tại quê mẹ thuộc xứ Đầu Thượng, xã Tình Diễm, huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh.

Loading...

 

soan bai vao phu chua trinh
Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Lớp 11 Trích Thượng Kinh Kí Sự

2. Thế tử Cán và thái độ con người Lê Hữu Trác 

– Nơi Thế tử ngự: đặt sập vàng, , hương hoa ngào ngạt.

– Lối vào: “đi trong tối om, qua năm sáu lần trướng gấm”

 – Nơi thế tử ngự: “đặt sập vàng cắm nến to trên giá đồng, bầy ghế đồng sơn son thiếp vàng, nệm gấm. Ngót nghét chục người đứng hầu chực sau tấm màn che ngang sân, cung nữ xúm xít. Đèn chiếu sáng làm nổi bật màu phấn và màu áo đỏ hương hoa ngào ngạt” à người thì đông nhưng tất cả đều im lặng khiến cho không khí trở nên lạnh lẽo, băng giá. Đó là môi trường sống xa hoa nhưng thiếu hài hoà, thiếu sinh khí

– Chỉ có một ấu chúa, thực chất chỉ là cậu bé lên 5 tuổi (chưa đến tuổi đi học) mà vây quanh bao nhiêu là vật dụng: gấm vóc, lụa là, vàng ngọc. Tất cả, bao chặt lấy một con người. Người thì đông nhưng đều im lặng nên không khí trở lên lạnh lẽo, băng giá. Bao trùm lên các mùi phấn son tuy ngào ngạt nhưng thiếu sinh khí. Một cậu bé như Trịnh Cán rất cần ánh nắng, khí trời, vậy mà bị quây tròn, bọc kín trong cái tổ kén vàng son khác gì mầm non trong vỏ cứng.

– Hình hài:

+ Mặc áo đỏ, ngồi trên sập vàng

+ Biết khen người giữ phép tắc “ông này lạy khéo”

+ Đứng dậy cởi áo thì: “Tinh khí khô hết, mặt khô, rốn lồi to, gân thì xanh, chân tay gầy gò… nguyên khí đã hao mòn, thương tổn quá mức… mạch bị tế sác… âm dương đều bị tổn hại”.

Thế tử Cán được miêu tả bằng con mắt nhìn của một vị lang y tài giỏi bắt mạch, chuẩn bệnh. Tác giả vừa tả, vừa nhận xét khách quan. Thế tử Cán được tái hiện lại thật đáng sợ: Tinh khí khô, mặt khô, toàn những đường nét của một cơ thể đang chết. Hình ảnh Thế tử Cán, chỉ qua vài nét miêu tả đã hiện rõ một cơ thể ốm yếu. Bấy nhiêu đã đủ rồi, nhưng nào chỉ bấy nhiêu, hãy đọc trong đơn thuốc: “Sáu mạch tế sác và vô lực hữu quan yếu, hữu xích càng yếu hơn. ấy là tì âm hư, vị hoả quá thịnh, không giữ được khí dương nên âm hoả di càn. Vì vậy bên ngoài thì thấy cổ trướng, đó là tượng trưng ngoài thì phú, trong thì trống”.  

Thế tử Cán có hình hài như vậy do cuộc sống vật chất quá đầy đủ, quá mức giàu sang phú quý nhưng tất cả nội lực bên trong là tinh thần, ý chí, nghị lực, phẩm chất thì trống rỗng. Ngôn ngữ của y học, hình hài tinh khí vẫn là của con người nhưng từng câu, từng chữ có lúc tạo nên nhịp điệu đối xứng Màn che – trướng phủ”, với điệp ngữ “quá no… quá ấm”. Nhà khoa học kiêm nghệ sĩ đã chỉ đúng cội nguồn căn bệnh Trịnh Cán là cả tập đoàn phong kiến của xã hội đằng ngoài ốm yếu không gì cứu vãn nổi.

– Khi khám bệnh cho Thế tử Cán, thái độ của Lê Hữu Trác diễn biến rất phức tạp.

+ Một mặt tác giả chỉ ra căn bệnh cụ thể, nguyên nhân của nó, một mặt ngầm phê phán: “Vì Thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi”.

+ Ông rất hiểu căn bệnh của Trịnh Cán, đưa ra những cách chữa hợp lý, thuyết phục nhưng lại sợ chữa có hiệu quả ngay, chúa sẽ tin dùng, bị công danh trói buộc: “Nhưng sợ mình không ở lâu, nếu mình làm có kết quả ngay thì sẽ bị danh lợi nó ràng buộc, không làm sao về núi được nữa”. Để tránh được thì chữa cầm chừng, dùng thuốc vô thưởng vô phạt. Song làm thế lại trái với y đức, trái với lương tâm, phụ lòng ông cha. Tâm trạng ấy giằng co, xung đột. Đây là ý nghĩ đáng quý: “Cha ông mình đời đời chịu ơn nước, ta phải dốc hết cả lòng thành để nối tiếp cái lòng trung của cha ông mới được”. Cuối cùng phẩm chất, lương tâm trung thực của người thầy thuốc đã thắng. Lê Hữu Trác đã gạt sang một bên sở thích của riêng mình để làm tròn trách nhiệm. Khi đã quyết, tác giả thẳng thắn đưa ra lí lẽ để giải thích. Lê Hữu trác là một thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng, già dặn kinh nghiệm. ông lấy việc trị bệnh cứu người làm mục đích chính.

3. Nghệ thuật viết kí sự 

– Quan sát tỉ mỉ

+ Quang cảnh phủ chúa.

+ Nơi Thế tử Cán ở, Cảnh vật dưới ngòi bút kí sự  tự phơi ra.

– Ghi chép trung thực, giúp người đọc nhận được cảnh ấy có bàn tay bài trí của giàu sang, quyền chức.

+ Từ việc ngồi chờ ở phòng chè đến bữa cơm sáng

+ Từ việc xem bệnh cho Thế tử Cán đến ghi đơn thuốc.

Tác giả đã dùng vốn hiểu biết và tài năng của mình để ghi chép lại toàn bộ cuộc sống xa hoa ở phủ chúa, ghi lại những hình ảnh, sự vật đặc biệt quan trọng để qua đó tố cáo chế độ độc tài thối nát, lối kể chuyện sâu sắc của tác giả đã làm cho người đọc hứng thú với diễn biến câu chuyện. Cả bài là một cuộc sống xa hoa tác giả dã rất thành công trong việc ghi dấu ân đặc biệt bởi những chi tiết rất đặc sắc để lột tả được một cuộc sống xa hoa của phủ chúa, những quan cách và những thủ tục rườm già, mang nặng quyền thế. Tất cả không có một chút hư cấu, chỉ thấy hiện thực đời sống cứ được bóc, tách dần từng mảng. Người đọc không thể dừng lại ở bất cứ chỗ nào. Cách ghi chép cũng như tài năng quan sát đã tạo được sự tinh tế, sắc sảo ở một vài chi tiết, gây ấn tượng khó quên.

+ Việc Thế tử Cán ngồi trên sập vàng chỗm chệ ban một lời khen khi một cụ già quỳ dưới đất lạy bốn lạy “ông già lạy khéo”.

+ Khi đi vào nơi Thế tử xem mạch, tác giả chú ý cả chi tiết bên trong cái màn là nơi “Thánh thượng đang ngự” (chỉ chúa Trịnh Sâm) “Có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít. Đèn sáp chiếu sáng làm nổi màu mặt phấn và màu áo đỏ. Xung quanh lấp lánh hương hoa ngào ngạt. Chi tiết này khẳng định việc ăn chơi hưởng lạc của nhà Chúa tự nó phơi bày ra mồn một.

III. TỔNG KẾT 

– Đoạn trích Vào Trịnh phủ trích Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác vừa mang đậm giá trị hiện thực, vừa thể hiện tính trữ tình của một thầy thuốc giàu tài năng, mang bản lĩnh vô vi, thích, sống gần gũi chan hoà với thiên nhiên, ghẻ lạnh với danh vọng, suốt đời chăm lo giữ gìn y đức của mình.

– Tài năng quan sát sự vật, sự việc, cách kể hấp dẫn, Lê Hữu Trác đã góp phần thể hiện vai trò, tác dụng của thể kí đối với hiện thực đời sống.

 >> XEM THÊM: Soạn Bài Chuyện Cũ Trong Phủ Chúa Trịnh

Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Lớp 11 Trích Thượng Kinh Kí Sự
3.7 (73.33%) 3 votes
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

soan bai khai quat van hoc viet nam

Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Lớp 11 Tiếp Theo |Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11) – Em hãy soạn bài Khái quát văn học Việt Nam …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *