Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 10 / Soạn Văn Truyện Kiều Trao Duyên Lớp 10 Của Nguyễn Du | Văn Mẫu

Soạn Văn Truyện Kiều Trao Duyên Lớp 10 Của Nguyễn Du | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Truyện Kiều – Phần 2: Trao duyên (Bài làm của học sinh Lương Thu Thủy)

Đề bàiSoạn Văn Truyện Kiều Trao Duyên Lớp 10 Của Nguyễn Du | Văn Mẫu

BÀI LÀM

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Vị trí đoạn trích:

– Sau đêm thề nguyền giữa Kim Trọng và Thuý Kiều, Kim Trọng phải về gấp hộ tang chú ở Liễu Dương. Tai nạn ập đến với gia đình Kiều. Cha, em bị đánh đập tàn nhẫn, của nả bị cướp sạch. Kiều buộc phải bán mình chuộc tội cho cha và em. Công việc nhà tạm ổn, nhưng mối tình của mình thì lỡ dở. Chỉ còn lại một đêm ở nhà, ngày mai phải đi theo Mã Giám Sinh, Thuý Kiều đã cậy nhờ Thuý Vân trả nghĩa cho Kim Trọng. Đoạn trích từ câu 723 đến 756 trong tác phẩm Truyện Kiều. Tiêu đề do người soạn sách tự đặt ra.

2. Bố cục đoạn trích: 3 phần

– 12 câu đầu: Kiều tìm cách thuyết phục, trao duyên cho Thuý Vân.

– 14 câu tiếp: Kiều trao kỉ vật và dặn dò thêm em.

– 8 câu cuối: Kiều đau đớn thảm thiết, đến ngất đi.

II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1. Diễn biến tâm trạng của Thúy kiều trong 12 câu đầu:

– Đem tình yêu của mình trao cho người khác là một chuyện bất đắc dĩ. Trường hợp của Kiều không thể đành được, buộc nàng phải làm như thế. Vả lại việc vợ chồng là chuyện hệ trọng cả một đời người, không yêu sao lại có thể lấy làm chồng được. Trao duyên trong hoàn cảnh của Thuý Kiều là chuyện tế nhị và khó nói.

-Ngay từ lời mở đầu Kiều đã lựa chọn lời lẽ thích hợp nhất:

“Cậy em, em có chịu lời”

– “Cậy” chứ không phải nhờ. “Cậy” là thể hiện niềm tin nhất. Chỉ có em mới là người chị tin cậy nhất. Vì thế “cậy” có sức nặng của niềm tin hơn. “Chịu lời” chứ không phải nhận lời. “Chịu lời” buộc người mình tin phải nghe theo không thể chối từ. Nếu nói nhận lời thì người nghe có thể chối từ.

 – Trong lúc bối rối và đau khổ nhất, Kiều vẫn lựa những lời lẽ để thuyết phục đứa em ruột của mình. Bởi vì những gì nàng sắp nói ra vô cùng hệ trọng với hạnh phúc của em mình. Kiều không chỉ lựa lời mà cử chỉ thông qua lời thoại

    “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”.

– Kiều lạy là lạy đức hi sinh cao cả của Thuý Vân. Bởi rồi đây Thuý Vân phải chấp nhận lấy người mình không được yêu, cụ thể “lấy người yêu chị làm chồng”.

 =>  Hai câu mở đầu đoạn trích, ta nhận ra dù trong hoàn cảnh tan nát cõi lòng Thuý Kiều vẫn bộc lộ sự đoan trang tế nhị.

– Nàng có nói về mối tình của mình, hoàn cảnh của mình:

“Kể từ khi gặp chàng Kim

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề

Sự đâu sóng gió bất kì

Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”

Tình sâu mà hiếu cũng nặng. Hoàn cảnh này buộc Kiều phải lựa chọn. Lẽ tất nhiên Kiều phải hi sinh tình yêu để làm tròn chữ Hiếu. Cách nói này của Thuý Kiều cốt để Thuý Vân thấy được sự hi sinh của Kiều mà thương lấy nàng. Đến đây Kiều có thể nói được những điều muốn nói:

“Ngày xuân em hãy còn dài

Xót tình máu mủ thay lời nước non”

Điều muốn trao gửi, Kiều đã nói được rồi.

=> Lí lẽ trao duyên của Kiều thật đơn giản thứ nhất bởi Kiều và Vân là chị em ruột, là tình máu mủ ruột già.

+ Ngôn ngữ Nguyễn Du có sự kết hợp hài hoà giữa cách nói trang trọng, văn hoa và giản dị, nôm na của cách nói dân gian.

+ Sử dụng  các điển tích ”keo loan”,”tơ duyên” đi với các thành ngữ ”tình máu mủ”,”lời non nước”, ”thịt nát xương mòn”, ”ngậm cười chín suối…”

– Tâm trạng Kiều: Biết ơn chân thành, yên tâm, thanh thản, sung sướng vì nỗi niềm được giải quyết. Song đây chỉ là tâm trạng tạm thời của Kiều vì nỗi đau đích thực vẫn đang âm ỉ trong lòng chỉ chờ cơ hội là nó sẽ tuôn trào mãnh liệt.

2. Diễn biến tâm trạng của Kiều ở 14 câu tiếp:

– Trao lại cho Thuý Vân những tín vật thiêng liêng, hẹn ước Kim – Kiều:

“Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ, vật này của chung”

  + Bức tờ mây → Tờ giấy có trang trí hình mây, ghi lời thề chung thuỷ của Kim – Kiều

  + Chiếc vành còn gọi là xuyến bằng vàng, đồ trang sức của phụ nữ, Kim Trọng đã trao cho Thuý Kiểu để làm tin. Đó là những kỉ vật, là minh chứng của tình yêu.

– Một tiếng “giữ” không có nghiã là “trao” hẳn mà chỉ để cho em giữ. Nhưng tiếng “chung” mới thật xa xót. Bởi đáng lẽ kỉ vật này là của riêng nàng mới đúng sao lại là của chung. Không đành được, Kiều phải trao lại cho em. Thế mới biết tình yêu Kim – Kiều nồng nàn sâu sắc đến mức độ nào. Kiều vẫn trao duyên cho em chứng tỏ trong tình yêu và vì tình yêu, Kiều đã đặt hạnh phúc của người yêu lên trên hết.

Loading...

– Kiều tiên đoán cảnh tượng oan nghiệt đau đớn, xót xa: ”người mệnh bạc” người có số phận bạc bẽo không may mắn, không thoát ra được như một định mệnh – chết oan, chết hận. Nàng coi như mình đã chết. Đó là cái chết của tâm hồn. Vì nàng ý thức hạnh phúc của mình là hết rồi, đã chấm dứt. Từ đây ngôn ngữ trong lời thoại của Kiều gợi ra cuộc sống ở cõi âm

“Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió là hay chị về

Hồn còn mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu đến nghì trúc mai

Dạ đài cách mặt khuất lời

Rưới xin giọt nước cho người thác oan”

Nàng đã ý thức được thân phận của mình. Lời của Kiều là lời của một oan hồn. Tâm trạng của nang đau đớn đên tột cùng. Nàng đã tự khóc cho mình. Đó là tiếng khóc cho thân phận.

=> Từ ngôn ngữ đối thoại với em dần chuyển sang ngôn ngữ độc thoại.

3. Diễn biến tâm trạng của Kiều ở tám câu cuối. 

– Nàng quên hẳn người ngồi trước mặt mình là Thuý Vân, Kiều tâm sự với chàng Kim:

Bây giờ trâm gãy bình tan

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân

Trăm nghìn gửi lạy tình quân

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi

Phận sao phận bạc như vôi

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng

Ôi! Kim lang hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây

Từ đau khổ, lời thơ chuyển thành tiếng khóc. Nỗi đau cứ tăng lên mãi, đau cho “tơ duyên ngắn ngủi”, đau cho “phận bạc”, đau cho một đời “hoa trôi lỡ làng” và cuối cùng tiếng khóc ấy nức nở tự cho mình là người phụ bạc người mình yêu.

 

 – Như từ cõi chết Kiều quay về thực tại tất cả đã dở dang, đổ vỡ,…

– Nhịp thơ hai câu cuối: 3/3 và 2/2/2/2 như nhát cắt, tiếng nấc nghẹn ngào, đau đớn chia lìa.

=> Tình cảnh Thuý Kiều đau khổ đến cực độ, Kiều quên hẳn người đang đối thoại một mình, nói với người yêu vắng mặt nhiều lời thống thiết nghẹn ngào. Hơn thế, Kiều vẫn sáng ngời nhân cách cao thượng, vị tha, hi sinh cao quý. Ở hai câu cuối là tâm trạng đau đớn tuyệt vọng tột đỉnh của Thúy Kiều, nàng gọi tên người tình vắng mặt bằng tiếng kêu thét tuyệt vọng. Kiều ngất đi trong tâm trạng:

        “ Nợ tình chưa trả cho ai,

 Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan”

Song cuộc đời bi kịch của nàg chưa dừng lại ở đó. Vì nàng chưa chết, không thể chết và 15 năm cay cực lên thác xuống ghềnh đang đợi sẵn nàng ở phía trước.

III. TỔNG KẾT

1. Nội dung

– Tác phẩm viết lên bằng khả năng thông cảm sâu sắc của người nghệ sĩ khi hoá thân thành người trong cuộc để nói lên những tâm tư sâu kín, uẩn khuất  nhất trong cõi lòng .

– Đoạn thơ bi thương nhưng không hề đen tối bởi cái bi thương toát ra phẩm chất cao đẹp của con người, vang lên lời tố cáo tội ác xã hội bất công đã chồng chất khổ đau lên một kiếp người .

2. Nghệ thuật

– Miêu tả, phân tích tâm trạng phức tạp, mâu thuẫn chân thực, tinh tế, ngôn ngữ biến hoá linh hoạt .

– Sử dụng nhiều thành ngữ quen thuộc tạo nên tâm trạng đầy kịch tính .

>> XEM THÊM: Soạn Văn Truyện Kiều Phần 1 Tác Giả

>> XEM THÊM: Soạn bài Truyện Kiều Phần Thề nguyền

>> XEM THÊM: Soạn bài Truyện Kiều Phần Chí khí anh hùng

>> XEM THÊM: Soạn bài Truyện Kiều Phần 2 Nỗi thương mình

Soạn Văn Truyện Kiều Trao Duyên Lớp 10 Của Nguyễn Du | Văn Mẫu
Rate this post
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

soan bai noi dung va hinh thuc cua van ban van hoc

Soạn Bài Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học Lớp 10 | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 10) – Em hãy soạn bài Nội dung và hình thức của …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *